Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
Họ Tưởng ở làng Tả Thanh Oai
Thứ tư, 03 Tháng 3 2010 15:48
Họ Tưởng là một trong những dòng Họ lâu đời ở làng Tả Thanh Oai (làng Tó) xưa kia với câu ca: “nhất tưởng ,nhị ngô ,tam nguyễn tộc” nghĩa là một họ Tưởng, hai họ Ngô và ba họ Nguyễn có phả hệ trên 20 đời trở lên có công đầu tiên trong việc thành lập và mở mang làng xã. Vào năm đầu triều vua Minh Mạng, là năm Canh Thìn (1820) tháng 11 ngày Đông chí cụ Tưởng Đức Gia trưởng Họ đời thứ 14 cùng con, cháu và toàn họ dâng dựng bia, kích thước (dầy 20, rộng 110, cao 160 cm) với tựa đề “tưởng đại tôn hợp tự chi bia” mặt trước liệt kê thuỵ hiệu 13 đời tổ đã mất theo ngôi thứ nêu công đức sáng ngời để làm nơi hợp tế Xuân hàng năm. Trong cuốn: “tưởng tộc gia phả” viết năm Hoàng triều Thành thái năm thứ 15 (1903), tháng trọng xuân (tháng 2) ngày tốt tộc trưởng cháu 19 đời tên là Tưởng Đại phụng sao và giữ quyển gia phả này, có ghi Họ nhà ta từ 19 đời trở lên thì không còn tài liệu gì, không biết dựa vào đâu mà khảo. Từ khi có phả hệ thì có thể kê cứu. Cụ thuỷ tổ sống ngang với năm Thiệu Phong tức là đời vua Trần Dụ Tông. Thuỷ tổ Tưởng tướng công tên chữ là Đức Tiên, giỗ ngày mồng 1 tháng Giêng. Trong bài (văn tế hôm lập bia năm 1820) ghi :Tế mùa xuân sau ngày rằm tháng giêng (nếu gặp ngày giỗ thì đổi vào ngày hôm sau), các lễ vật đem đến đàn tế làm lễ như nghi thức (chủ tế và các vị có học ở trong họ, cùng các vị trưởng lão đều có mặt dự tế), khi làm lễ xong thì trở về nhà trưởng tộc uống rượu để tỏ rõ tình đoàn kết trong họ. Còn trước đây thì cuộc tế mùa xuân, lấy ngày mống 6 tháng giêng bầy lễ vật tế ở ngoài mộ.

Ngày xưa còn có câu ca nữa: “ngô gia lập ấp, nguyễn tộc khai khoa, tưởng tộc quận công” . Cả làng có 5 vị Quận Công thì họ Tưởng có 3 vị là:

1 -Tưởng Tu Đạo, sinh năm Mậu Ngọ 1498 mất năm 1573 hàm: Quang Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân, Phụng Thánh – Thiên Định, Nhị Vệ Đô Quản, lĩnh tước Phúc Toàn Quận Công.

2 -Tưởng Bá Linh, sinh năm Tân Dậu 1501 – mất…..hàm: Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tư lễ giám thủ thái giám tri quản ích điện, tước Đoan Nghĩa Quận Công.

3 -Tưởng Phúc Ngộ, sinh năm Bính Tuất 1526 – mất……chức: Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Bảo Trung – Thần Ưng, Nhị Vệ Đô Quản, lĩnh tước Văn Phong Quận Công.

4 -Ngô Đình Thạc, sinh năm Canh Tuất 1670 – mất….chức: Thượng thư Bộ Hộ, tước Quận Công,(trang 131 các làng khoa bảng, Thăng Long – Hà Nội, xb năm2004).

5 -Ngô Thì Nhậm, sinh năm Bính Dần 1746 – mất năm Quý Hợi 1803 chức: Thượng thư Bộ Binh, tước Phương Quận Công,(trang 135 các làng khoa bảng,TL-HN)

Câu ca đó ứng với sự kiện Họ Ngô Vi ở làng đầu tiên, phả hệ cũng nhiều đời nhất, đến nay là 25 đời. Họ Nguyễn có cụ Nguyễn Chỉ đỗ Đại khoa đầu tiên của làng năm 1453, Hội Nguyên khoa Quý Dậu. Họ Tưởng có cụ Tưởng Tu Đạo là Quận Công đầu tiên (1573).

Về võ quan cho thấy họ Tưởng phát lên 3 đời liên tiếp: đời thứ 7, đời thứ 8, đời thứ 9. Có nhiều cụ làm quan trong triều suốt một thế kỷ thứ XVI từ năm 1520 đến1627.

Về việc trong làng cụ Tưởng Đức Hiển (1679 -1759) có làm ra 2 quyển sách chép các công việc ở trong làng xóm gọi là bộ “lư sử” và “gia sử”. Trong làng có điều gì không hiểu người ta đều đem đến hỏi cụ. Các họ hay có thông gia với nhau như con gái cụ (Tưởng Đức Hiển đời thứ 12 họ Tưởng) là Tưởng Thị Lãng lấy cụ Ngô Tuyết Trai (đời thứ 10 họ Ngô Thì), sinh được hai danh nhân là cụ Ngô Thì Sĩ và Ngô Tưởng Đạo và còn nhận cụ Ngô Tưởng Đạo làm kẻ thừa tự . Cụ Tưởng Bá Hoành đời thứ 18 họ Tưởng gả con gái là Tưởng Thị Cần làm dâu trưởng đời thứ 21 họ Ngô Vi (bà trưởng Trụ). Còn bà trưởng đời thứ 20 họ Tưởng là Nguyễn thị Độ, con gái cụ Nguyễn Tất Đạt thuộc họ Nguyễn khai khoa trong làng đã sinh cho nhà trưởng họ Tưởng 8 người con, thì có 5 người con học hành đỗ đạt (gồm: 1 Tiến sĩ, 1 Bác sỹ, 2 Kỹ sư và 1 Cử nhân)..v.v.

Năm Canh Thìn (2000) Họ Tưởng Toàn quốc sum họp. Hội thảo gia phả, văn bia, nhà thờ họ Tưởng ở các địa phương trong toàn quốc và nhận thuỷ tổ họ Tưởng ở Tả Thanh Oai là thuỷ tổ họ Tưởng ở Việt Nam trong toàn quốc, đã hoàn thành tu sửa:

1 –Xây lăng bảo vệ Bia cổ (tưởng đại tôn hợp tự chi bia) ở đàn tế, xây vuông 4 cột, 8 mái chia 2 tầng, vị trí ở ngõ chùa Thắm đi ra.

2 – Xây lăng mộ TƯởng thuỷ tổ, dựng bia đá kích thước (20*120*180 cm) khắc: mặt trước bài vị 8 vị tổ song táng tại đây, và mặt sau (văn bia tưởng đại tộc) xác định đến nay đã 23 đời, gần 700 năm, khắc Tổ họ Tưởng ở các địa phương, trưởng tộc các đời và tổ thúc hiển đạt . Lăng xây vuông, 8 cột, 8 mái chia 2 tầng, vị trí ở ngõ Chùa Thắm đi ra.

3 – Xây lăng mộ Tổ đời thứ 3 cụ Tưởng Đức Ngu ở ngõ Đình phe đi ra cũng xây vuông 4 cột, 12 mái chia 3 tầng, trong dựng bia đá kích thước (20*120*180 cm) mặt trước khắc bài vị 2 Tổ song táng ở đây, mặt sau khắc bài “sáng danh tiên tổ” để con cháu học tập noi theo.

Họ Tưởng có truyền thống thờ cúng tổ tiên ở nhà thờ trưởng tộc, do dòng trưởng liên tục có kẻ nối dõi giữ hương khói với tổ tiên, nên nhà thờ Trưởng tộc đến nay vẫn chỉ truyền cho con trưởng họ Tưởng đời sau nắm giữ, tu sửa. Hàng năm cứ đến chủ nhật sau rằm tháng giêng, các chú, các em, các con cháu dâu rể họ Tưởng toàn quốc đều tập chung về nhà thờ Trưởng tộc ở xóm Văn Lâm, làng Tả Thanh Oai: Để đi tảo mộ, tổ chức đại lễ tế Tổ , dâng hương, đọc văn bia Tưởng Đại Tộc, mừng thọ, khuyến học, tổng kết một năm việc họ, liên hoan đoàn kết trong họ tộc.


KHOA BảNG, VĂN QUAN - Võ QUAN

Họ Tưởng ở làng Tả thanh oai.

Văn quan :

1 - Thiêm phán: Tưởng Tư (đời thứ 3),đi sứ sang nhà Minh năm 1406. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II trang 245, tập IV trang 426).

2 - Chuyển vận phó sứ : Tưởng Thừa Hy (đời thứ 5), làm Trung đô phủ Thiếu doãn, năm 1448. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập III trang 141, tập IV trang 426).

3 - Cụ Tưởng Bá Linh (tổ thúc chi trưởng,đời thứ 7), hiệu Đoan Tĩnh Công sinh năm Tân Dậu 1501 ….Hàm: “Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tư lễ giám thủ thái giám tri quản ích điện, tước Đoan Nghĩa quận công”.

4 - Cụ Tưởng Đức Trí (chi trưởng, đời thứ 9), sinh năm Nhâm Thân 1572- mất năm 1627 ,chức: “Tiến công lang tri thượng lâm viện sự” .Sau theo đạo phật được Vua ban hiệu: “Tông đầu trí tuệ bồ tát”.

5 - Cụ Tưởng Đạo Cao (chi trưởng, đời thứ 10) sinh năm Canh Tuất 1610 mất năm 1644, chức: “Tiến công lang chi Thượng Lâm Viện”.

6 - Cụ Tưởng Đức Hiển (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 12) sinh năm Kỷ Mùi (1679 mất năm 1759) thọ 81 tuổi: Đỗ khoa Tân Mão (1711). Lần lượt được bổ nhiệm các chức quan ở Thái Nguyên, Sơn Tây. Rồi về sau làm sung chức Đốc phủ ở Sơn Nam, rồi làm chức chủ bạ. “Sơn Nam Đốc phủ ,Chủ bạ”.

7 - Cụ Tưởng Ngô Đạo là (Ngô Tưởng Đạo –em ruột cụ Ngô Thì Sỹ) tự Văn Túc Công, (thứ chi, ngang đời thứ 14), thi đỗ giải Nguyên khoa Hoành Từ làm quan chức Thanh hình hiến sát sứ ở Kinh Bắc (tức quan án sát). Được thừa tự chi thứ của cụ Tưởng Đức Hiển (nuôi cháu ngoại làm người nối dõi).

8 - Cụ Tưởng Đức Gia (chi trưởng, đời thứ 14), sinh năm Đinh Mão 1747 mất năm 1822, chức Cung Thận Lang, Tư Vụ, Bộ Hộ. Tước Gia Đức Tử.

9 - Cụ Tưởng Phúc Thuần (chi trưởng, đời thứ 15), sinh năm Bính Thân 1776 mất năm 1843, chức: Phụng Nghị Đại Phu, Sơn Nam trấn thư ký, tước Thanh Sơn Bá.

10 - Cụ Tưởng Phúc Chân (chi trưởng, đời thứ 16), sinh năm Bính Dần 1806 mất năm 1872, chức: Tổng Giáo ở huyện Phù Yên, tỉnh Hưng Hóa.

Võ quan:

1 - Cụ Tưởng Tu Đạo (chi trưởng, đời thứ 7), sinh năm Mậu Ngọ 1498 mất năm 1573, hàm: Quang Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân, Phụng Thánh -Thiên Định Nhị Vệ Đô Quản, lĩnh tước Phúc Toàn Quận Công.

2 - Cụ Tưởng Phúc Sơn (chi trưởng, đời thứ 8), sinh năm Qúy Mùi 1523 mất năm 1582, chức: Vũ Huân Tướng Quân Hữu Điểm Kiểm.

3 - Cụ Tưởng Phúc Ngộ (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 8), sinh năm Bính Tuất 1526 ….., chức: Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Bảo Trung –Thần Ưng Nhị Vệ Đô Quản, lĩnh Văn Phong Quận Công.

4 - Cụ Tưởng Phúc Thành (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 9), sinh năm Nhâm Tý 1552…., chức: Quang Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân Hùng Uy Vệ Quản Lĩnh Thọ Cường Hầu.

5 - Cụ Tưởng Đức Thành (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 14), sinh năm Giáp Tuất 1754……, chức: Hoa Sơn Đại Tướng Quân.

Sau cách mạng tháng 8-1945

1 - Cụ Tưởng Dân Bảo (thuộc chi 2,đời thứ 19), sinh năm Đinh Mùi1907 mất năm Đinh Hợi 1947. Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, đặc phái viên ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ, bí thư kiêm chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Châu Đốc. Mộ táng ở nghĩa trang liệt sỹ thành phố Hồ Chí Minh, được nhà nước tặng huân chương Hồ Chí Minh. Đặc biệt là người có công dẫn đoàn đi đón 1800 đồng chí tù chính trị ở Côn Đảo ngày 23-9-1945 về đất liền làm tiêu tan âm mưu thủ tiêu các đồng chí này của địch khi chúng tái chiếm Nam Bộ cùng ngày23-9-1945.

2 –Tưởng Thị Hội (đời thứ 21) sinh năm Bính Tuất 1946. Kỹ sư tốt nghiệp trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội năm 1969, tốt nghiệp Tiến Sỹ ngành quá trình và thiết bị công nghệ Hóa học tại Liên Xô cũ năm 1979. Giảng dậy ở khoa hoá trường Đại học bách khoa – Hà Nội.

3 –Tưởng Văn Hoà (trưởng tộc đời thứ 21) sinh năm Nhâm Thìn 1952. Bác sỹ tốt nghiệp trường Đại học Quân y, khoá 66 năm 1978 là Thượng uý Bác sỹ quân y, hiện tại là trưởng phòng khám tư ở Đội 2 Tả Thanh Oai.

4 – Tưởng Thanh Hùng (đời thứ 21) sinh năm ất Mùi 1955. Kỹ sư tốt nghiệp trường Đại học Bách khoa Hà nội năm 1979, là Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần metech – Hà nội.

5 – Tưởng Công Sinh (đời thứ 21) sinh năm Bính Thân 1956. Cử nhân tốt nghiệp trường Đại học Ngoại thương Hà nội năm 1982, là trưởng phòng hợp tác song phương vụ hợp tác quốc tế Tổng cục Hải quan Việt nam.

6 – Tưởng Thái Hưng (đời thứ 21) sinh năm Quý Mão 1964, Kỹ sư tốt nghiệp trường Đại học Bách khoa Hà nội năm 1986, là chủ Doanh nghiệp nước chấm Việt Hồng – Hà Nội.

Tài liệu tham khảo:

1- Gia phả Tưởng Đại Tôn (ở làng Tả Thanh Oai). Hoàn thành năm 1903.

2- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. (nhà xuất bản khoa học xã hội. Hà nội – 1973). Sự kiện năm 1406 và năm 1448. Tập II trang 245, tập III trang141, tập IV trang426.

3- các làng khoa bảng thăng long-hà nội. (nhà xuất bản chính trị quốc gia hà nội – 2004). Làng Tả Thanh Oai, trang 131, tr 135.

4- tông phả kỷ yếu tân biên. (nhà xuất bản văn hóa dân tộc – 2006). Chương 8- đại tộc tưởng việt nam. Trang 323.

5- GIáO DụC Lý LUậN. (HọC VIệN CHíNH TRị – HàNH CHíNH QuốC GIA Hồ CHí MINH – Số8 – 2009). Tưởng dân bảo – một chiến sĩ cách mạng kiên trung, trang 37.

Cung cấp thông tin

Trưởng tộc họ Tưởng đời thứ 21 ở làng Tả Thanh Oai.

Bác sỹ: Tưởng Văn Hòa. đt:0987329638. -0436884411.



Dịch nghĩa nguyên bản từ chữ Nho khắc tại bia đá đàn tế dựng

vào tháng 11 năm Canh Thìn đời vua Minh Mạng (năm 1820).


TƯỞNG ĐẠI TÔN HỢP TỰ CHI BIA


HỌ TƯỞNG TA CÓ NGUỒN GỐC SÂU RỘNG LÂU DÀI Ở đất VIỆT, CÓ PHẢ HỆ CHỨNG MINH ĐẦY ĐỦ TỪ NĂM THIỆU PHONG TRỞ ĐI ĐÃ TRẢI MƯỜI SÁU ĐỜI, ĐẾN NAY CHỪNG 500 NĂM RỒI.

THUỶ TỔ KHẢO TỰ ĐỨC TIÊN PHỦ QUÂN; TỔ TỶ NGÔ QUí THỊ HIỆU BẢO SINH (NHỊ VỊ HỢP TÁNG MẢ TỔ THAO VỰU).

HIỂN THẬP TAM ĐẠI TỔ KHẢO TỰ ĐỨC TIẾN PHỦ QUÂN; TỔ TỶ NGUYỄN QUí THỊ HIỆU DiêN TRƯỜNG (NHỊ VỊ HỢP TÁNG MẢ TỔ THAO VỰC).

HIỂN THẬP NHỊ ĐẠI TỔ KHẢO TỰ ĐỨC NGU PHỦ QUÂN; TỔ TỶ HIỆU TỪ DUỆ (NHỊ VỊ HỢP TÁNG CÂY TRAI).

HIỂN THẬP NHẤT ĐẠI TỔ KHẢO TỰ ĐỨC CHÍNH PHỦ QUÂN; TỔ TỶ HIỆU TỪ THỤC (GIÁP VỊ TÁNG MẢ KỲ HẠ, ẤT VỊ TÁNG XỨ CÂY TRAI) SINH NAM LỤC, TRƯỞNG PHÚC KHÊ CÔNG, THỨ PHÂN NGŨ CHI TỪ ĐÂY.

HIỂN THẬP ĐẠI TỔ KHẢO TỰ PHÚC KHÊ PHỦ QUÂN; TỔ TỶ MẠC QUí THỊ HIỆU TỪ ÁI (HỢP TÁNG MẢ TỔ THAO VỰC).

HIỂN CỬU ĐẠI TỔ KHẢO TỰ ĐỨC KHÊ PHỦ QUÂN; TỔ TỶ NGÔ QUí THỊ HIỆU TỪ TÍN (HỢP TÁNG MẢ TỔ THAO VỰC) SINH NAM NHỊ, TRƯỞNG TU ĐẠO CÔNG, THỨ ĐOAN TĨNH CÔNG.

HIỂN BÁT ĐẠI TỔ KHẢO: QUANG TIẾN TRẤN QUỐC ĐẠI TƯỚNG QUÂN PHỤNG THÁNH THIÊN ĐỊNHNHỊ VỆ ĐÔ QUẢN LĨNH PHÚC TOÀN QUẬN CÔNG, THUỴ TU ĐẠO PHỦ QUÂN; TỔ TỶ TÔN QUí THỊ HIỆU TỪ TÍNH (HỢP TÁNG MẢ KỲ TRUNG XỨ) SINH NAM NHỊ, TRƯỞNG PHÚC SƠN CÔNG, THỨ PHÚC NGỘ CÔNG; TỔ THÚC ĐẶC TIẾN KIM TỬ VINH LỘC ĐẠI PHU TƯ LỄ GIÁM THỦ THÁI GIÁM TRI QUẢN ÍCH ĐIỆN, ĐOAN NGHĨA QUẬN CÔNG, THUỴ ĐOAN TĨNH TIÊN SINH.

HIỂN THẤT ĐẠI TỔ KHẢO: VŨ HUÂN TƯỚNG QUÂN HỮU ĐIỂM KIỂM, TỰ PHÚC SƠN PHỦ QUÂN; TỔ TỶ PHẠM QUÝ THỊ HIỆU TỪ ĐỨC (HỢP TÁNG MẢ KỲ TRUNG XỨ) SINH NAM NHỊ, TRƯỞNG ĐỨC TRÍ CÔNG, THỨ PHÚC THÀNH CÔNG; TỔ THÚC: ĐẶC TIẾN PHỤ QUỐC THƯỢNG TƯỚNG QUÂN BẢO TRUNG THẦN ƯNG NHỊ VỆ ĐÔ QUẢN LĨNH, VĂN PHONG QUẬN CÔNG, HIỆU PHÚC NGỘ TIÊN SINH.

HIỂN LỤC ĐẠI TỔ KHẢO: TIẾN CÔNG LANG TRI THƯỢNG LÂM VIỆN SỰ, TỰ ĐỨC TRÍ PHỦ QUÂN; TỔ TỶ LƯU QUí THỊ HIỆU TỪ ÁI (GIÁP VỊ TÁNG MẢ LAI XỨ, ẤT VỊ TÁNG MẢ SỔ XỨ); TỔ THÚC: QUANG TIẾN TRẤN QUỐC ĐẠI TƯỚNG QUÂN HÙNG UY VỆ QUẢN LĨNH THỌ CƯỜNG HẦU, THUỴ PHÚC THÀNH TIÊN SINH.

HIỂN CAO TỔ KHẢO TỰ ĐẠO CAO PHỦ QUÂN; TỔ TỶ NGUYỄN QUÝ THỊ HIỆU TỪ QUẢNG (GIÁP VỊ TÁNG MẢ SỔ XỨ, ẤT VỊ TÁNG MẢ KỲ TRUNG).

HIỂN TẰNG TỔ KHẢO TỰ ĐỨC THÁI PHỦ QUÂN; TỔ TỶ NGUYỄN QUÝ THỊ HIỆU TỪ DUYÊN (GIÁP VỊ TÁNG MẢ KỲ TRUNG, ẤT VỊ TÁNG MẢ GẠO XỨ) SINH NAM NHỊ, TRƯỞNG ĐỨC NHUẬN CÔNG, THỨ ĐỨC HIỂN CÔNG.

HIỂN TỔ KHẢO TỰ ĐỨC NHUẬN PHỦ QUÂN; TỔ TỶ TÔN QUÝ THỊ HIỆU TỪ Ý; KẾ TỔ TỶ TRẦN QUÝ THỊ HIỆU TỪ HÂN (GIÁP VỊ TÁNG MẢ KỲ ĐIỀN, ẤT VỊ TÁNG MẢ TỔ THAO VỰC, KẾ VỊ TÁNG MẢ SỔ ĐIỀN); THIẾU TỔ KHẢO: SƠN NAM ĐỐC PHỦ CHỦ BẠ, HIỆU ĐỨC HIỂN PHỦ QUÂN (TÁNG TRUNG THANH XỨ MẪU LƯƠNG THÔN ĐIỀN) TÁCH LÀM TIỂU CHI.

HIỂN KHẢO KỲ LỤC TỰ ĐỨC THUỲ PHỦ QUÂN; TỔ TỶ TRẦN QUÝ THỊ HIỆU TỪ NHÂN (HỢP TÁNG MẢ TỔ THAO VỰC).

CÙNG NỐI ĐỜI ĐẠO ĐỨC TÍCH LUỸ ĐÃ LÂU, NHỚ VỀ CUỘI NGUỒN LềNG NÀY CHẲNG QUấN, NGỬA MẶT NƯƠNG TỰA TỔ TIÊN CHE CHỞ LƯU LẠI KHOẢNG RUỘNG 3 SÀO LÀM KHU MỘ. THỬA ĐẤT NÀY TỔ TIÊN TA ĐỂ LẠI CÓ PHONG KHÍ TỐT. NAY KÍNH CẨN TỚI ĐẤT ẤY ĐẮP ĐÀN DỰNG BIA, LIỆT KÊ THUỴ HIỆU THEO NGÔI THỨ NÊU CÔNG ĐỨC SÁNG NGỜI ĐỂ LÀM NƠI HỢP TẾ XUÂN HÀNG NĂM GỒM TOÀN HỌ BÀN THỐNG NHẤT THUẬN LềNG VÀ VỊ TRÍ RUỘNG CÚNG ĐỀU KHẮC MẶT SAU BIA TRUYỀN LẠI LÂU DÀI NHĨ TÔN TƯỞNG ĐỨC GIA CUNG Kí.

VÀO NĂM ĐẦU TRIỀU VUA MINH MỆNH, LÀ NĂM CANH THèN THÁNG 11 NGÀY ĐÔNG CHÍ DÂNG DỰNG BIA.






Lăng tám vị tổ họ tưởng


Hiển thuỷ tổ khảo tưởng tướng công

tự là đức tiên phủ quân, Gĩô ngày mồng một tháng Giêng.

Hiển thuỷ tổ tỷ ngô quý thị

hiệu là bảo sinh an nhân, Gĩô ngày mười lăm tháng bẩy.

đời trần dụ tông, niên hiệu thiệu phong (1341 – 1357)



Hiển tổ khảo đời thứ hai tưởng quý công

tự là đức tiến phủ quân, Gĩô ngày mồng ba tháng ba.

Hiển tổ tỷ đời thứ hai nguyễn quý thị

hiệu là diên trường an nhân, Gĩô ngày mồng năm tháng năm.

đời trần duệ tông, niên hiệu long khánh (1373 – 1377)



Hiển tổ khảo đời thứ năm tưởng quý công

tự là phúc khê phủ quân, Gĩô ngày hai bẩy tháng tám.

Hiển tổ tỷ đời thứ năm mạc quý thị

hiệu là từ ái an nhân, Gĩô ngày hai nhăm tháng tư.

đời lê nhân tông, niên hiệu thái hoà (1443 – 1453)



Hiển tổ khảo đời thứ sáu tưởng quý công

tự đức khê phủ quân, thọ 75 tuổi, Gĩô ngày hai chín tháng chín.

Hiển tổ tỷ đời thứ sáu ngô quý thị

hiệu từ tín an nhân, thọ 70 tuổi, Gĩô ngày hai mươi tháng mười.

đời lê thánh tông, niên hiệu hồng đức (1470 – 1497)









VĂN BIA TƯỞNG ĐẠI TỘC


HỌ TƯỞNG TA THUỘC DÂN TỘC KINH Ở VIỆT NAM CÓ NGUỒN GỐC LÂU ĐỜI, THEO PHẢ TƯỞNG ĐẠI TÔN TẠI TẢ THANH OAI VÀ CÁC ĐỊA PHƯƠNG, HỌ TƯỞNG TÍNH ĐẾN NAY LÀ 23 ĐỜI, THỜI GIAN GẦN 700 NĂM. NAY TU TẠO LĂNG BIA, MẶT TRƯỚC KHẮC BÀI VỊ 8 TỔ TÁNG TẠI ĐÂY, MẶT SAU KHẮC TỔ HỌ TƯỞNG Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG, TỘC TRƯỞNG CÁC ĐỜI VÀ TỔ THÚC HIỂN ĐẠT.

THUỶ TỔ KHẢO ( SỐNG NGANG NIÊM HIỆU THIỆU PHONG 1341 – 1357 TRẦN DU TÔNG) TƯỞNG TƯỚNG CÔNG TỰ ĐỨC TIÊN, SINH VÀO ĐẦU THẾ KỶ XIV, TỔ MẤT TÁNG TẠI TẢ THANH OAI –THANH TRè –HÀ NỘI (HÀ ĐÔNG CŨ).

TỔ ĐỜI THỨ 2 TƯỞNG ĐỨC TIẾN (NIÊM HIỆU LONG KHÁNH 1373 -1377 ).

TỔ ĐỜI THỨ 3 TƯỞNG ĐỨC NGU (NIÊM HIỆU TRÙNG QUANG 1409 -1413) THỌ 81 TUỔI.

TỔ ĐỜI THỨ 4 TƯỞNG ĐỨC CHÍNH (NIÊM HIỆU THUẬN THIÊN 1428 -1433 ), THỌ 99 TUỔI, SINH 6 NAM.

TỔ ĐỜI THỨ 5 (NIÊM HIỆU THÁI HOÀ 1443 -1453) GỒM 6 CHI LÀ: CHI TRƯỞNG TƯỞNG PHÚC KHÊ; CHI 2 TƯỞNG HIỀN NHÂN; CHI 3 TƯỞNG THỦ HOÀ; CHI 4 TƯỞNG PHÚC CHÍNH; CHI 5 TƯỞNG PHÚC SƠN; CHI 6 TƯỞNG PHÚC HUY, NAY HèNH THÀNH 6 ĐẠI CHI TỘC PHÁT TRIỂN THÀNH NHIỀU CHI, NHÁNH, PHÁI TỪ BẮC VÀO NAM. DƯỚI ĐÂY LÀ NHỮNG ĐỊA PHƯƠNG CÓ NHIỀU ĐỜI HỌ TƯỞNG ĐANG SINH SỐNG:

THÀNH PHỐ Hà NỘI HUYỆN THANH TRè, XÃ TẢ THANH OAI Cể 4 ĐẠI CHI THỜ THUỶ TỔ 23 ĐỜI TƯỞNG TƯỚNG CÔNG TỰ ĐỨC TIÊN; THÔN HUỲNH CUNG CÓ 2 CHI THỜ TỔ 13 ĐỜI TƯỞNG PHÚC GIANG; XÃ HỮU HOÀ Cể 2 CHI THỜ TỔ 13 ĐỜI TƯỞNG PHÚC HÀ. -TỈNH HÀ TÂY, HUYỆN THANH OAI, XÃ PHÚ LƯƠNG, THÔN VĂN NỘI CÓ 6 CHI THỜ TỔ 19 ĐỜI TƯỞNG PHÚC SƠN; HUYỆN CHƯƠNG MỸ, XÃ HOÀNG DIỆU Cể 2 CHI THỜ TỔ 8 ĐỜI TƯỞNG MINH; HUYỆN ỨNG HOÀ, XÃ TẢO DƯƠNG VĂN CÓ 2 CHI HỌ TƯỞNG;- TỈNH QUẢNG BèNH, HUYỆN QUẢNG TRẠCH, XÃ QUẢNG TÙNG; TỈNH HÀ TĨNH, HUYỆN KỲ ANH, XÃ KỲ LIấN; TỈNH NGHỆ AN, HUYỆN NAM ĐÀN, XÃ ĐỒNG CHÂU, LÀNG DƯƠNG LIỄU; HUYỆN THANH CHƯƠNG, XÃ QUẢNG THÁI, XÃ BÍCH TRIỀU CÁC CHI THỜ TỔ 17 ĐỜI TƯỞNG ĐÔNG CUNG. -TỈNH QUẢNG NAM, HUYỆN ĐẠI LỘC, XÃ ĐẠI HIỆP, XÃ ĐẠI THẠCH; HUYỆN ĐIỆN BÀN, XÃ ĐIỆN THẮNG, ĐIỆN TIẾN, ĐIỆN HOÀ, ĐIỆN HỒNG; THỊ XÃ TAM KỲ,PHƯỜNG TRƯỜNG XUÂN CÁC CHI TÔN THỜ TỔ 11 ĐỜI TƯỞNG PHỦ QUANG CÔNG. HIỆN NAY TRÊN MỌI MIỀN TỔ QUỐC CềN Cể NHIỀU CHI TỘC HỌ TƯỞNG ĐANG SINH SỐNG.

HỌ TƯỞNG THEO (ĐẠI VIỆT SỬ Kí TOÀN THƯ) NĂM 1406 CÓ “ THIÊM PHÁN TƯỞNG TƯ” ĐI SỨ SANG NHÀ MINH, NĂM 1448 CÓ “ CHUYỂN VẬN PHÓ SỨ TƯỞNG THỪA HY LÀM TRUNG ĐÔ PHỦ THIẾU DOÃN”.

TỔ ĐỜI THỨ 6 TƯỞNG ĐỨC KHÊ (NIÊM HIỆU HỒNG ĐỨC 1470 -1497), THỌ 75 TUỔI.

TỔ ĐỜI THỨ 7 TƯỞNG TU ĐẠO (SINH 1498 -MẤT 1573) HÀM: “QUANG TIẾN TRẤN QUỐC ĐẠI TƯỚNG QUÂN, PHỤNG THÁNH THIÊN ĐỊNH NHỊ VỆ ĐÔ QUẢN, LĨNH TƯỚC PHÚC TOÀN QUẬN CÔNG”; TỔ THÚC TƯỞNG ĐOAN TĨNH, HÀM: “ĐẶC TIẾN KIM TỬ VINH LỘC ĐẠI PHU, TƯ LỄ GIÁM THỦ THÁI GIÁM TRI QUẢN ÍCH đIỆN, TƯỚC ĐOAN NGHĨA QUẬN CÔNG”.

TỔ ĐỜI THỨ 8 TƯỞNG PHÚC SƠN (1523 -1582) CHỨC “ VŨ HUÂN TƯỚNG QUÂN HỮU ĐIỂM KIỂM”; TỔ THÚC TƯỞNG PHÚC NGỘ, CHỨC “ĐẶC TIẾN PHỤ QUỐC THƯỢNG TƯỚNG QUÂN, BẢO TRUNG THẦN ƯNG NHỊ VỆ ĐÔ QUẢN, LĨNH VĂN PHONG QUẬN CÔNG”.

TỔ ĐỜI THỨ 9 TƯỞNG ĐỨC TRÍ (1572 -1627) CHỨC: “TIẾN CÔNG LANG TRI THƯỢNG LÂM VIỆN SỰ”, SAU THEO ĐẠO PHẬT ĐƯỢC VUA BAN HIỆU “ TÔNG ĐẦU TRÍ TUỆ BỒ TÁT”; TỔ THÚC TƯỞNG PHÚC THÀNH, CHỨC: “QUAN TIẾN TRẤN QUỐC ĐẠI TƯỚNG QUÂN, HÙNG UY VỆ QUẢN, LĨNH THỌ CƯỜNG HẦU”.

TỔ ĐỜI THỨ 10 TƯỞNG ĐẠO CAO (1610 -1644) CHỨC: “TIẾN CÔNG LANG TRI THƯỢNG LÂM VIỆN”.

TỔ ĐỜI THỨ 11 TƯỞNG ĐỨC THÁI (1644 -1714).

TỔ ĐỜI THỨ 12 TƯỞNG ĐỨC NHUẬN (1670 -1719); TỔ THÚC TƯỞNG ĐỨC HIỂN ĐỖ KHOA TÂN MÃO (1711) CHỨC: “SƠN NAM ĐỐC PHỦ, CHỦ BẠ”.

TỔ ĐỜI THỨ 13 TƯỞNG ĐỨC THUỲ (1718 -1789).

TỔ ĐỜI THỨ 14 TƯỞNG ĐỨC GIA (1747 -1822) CHỨC: “CUNG THẬN LANG, TƯ VỤ BỘ HỘ, TƯỚC GIA ĐỨC TỬ”; TỔ THÚC TƯỞNG ĐỨC THÀNH, HÀM: “HOA SƠN ĐẠI TƯỚNG QUÂN”.

TỔ ĐỜI THỨ 15 TƯỞNG PHÚC THUẦN (1766 -1843) LÀ: “PHỤNG NGHỊ ĐẠI PHU, SƠN NAM TRẤN THƯ Kí, TƯỚC THANH SƠN BÁ”. NĂM 1820 ĐẠI TỘC HỌ TƯỞNG ĐÃ QUYẾT ĐỊNH DỰNG BIA: “TƯỞNG ĐẠI TÔN HỢP TỰ CHI BIA” ĐỂ TẾ TỔ HÀNG NĂM VÀO NGÀY CHỦ NHẬT SAU RẰM THÁNG GIÊNG.

TỔ ĐỜI THỨ 16 TƯỞNG PHÚC CHÂN (1806 -1872) LÀ: “TỔNG GIÁO HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH HƯNG HOÁ”.

CỤ ĐỜI THỨ 17 TƯỞNG HUY ĐIỀU, HIỆU ĐỨC CƯƠNG (1844 -1904) LÀ: “THẬP Lí HẦU”.

CỤ ĐỜI THỨ 18 TƯỞNG BÁ HOÀNH HIỆU MINH NGỌC (1870 -1930) LÀ: “Lí TRƯỞNG HÀM TềNG CỬU PHẨM BÁ HỘ”.

CỤ ĐỜI THỨ 19 TƯỞNG ĐẠI HIỆU HƯƠNG ĐẠI (1892 -1966) LÀ: “Lí TRƯỞNG”; (CHI 2 ĐỜI THỨ 19) CỤ TƯỞNG DÂN BẢO (1907 -1947) ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, ĐẶC PHÁI VIÊN UỶ BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN NAM BỘ, BÍ THƯ KIÊM CHỦ TỊCH UỶ BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN TỈNH CHÂU ĐỐC. MỘ TÁNG Ở NGHĨA TRANG LIỆT SỸ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐƯỢC NHÀ NƯỚC TRUY TẶNG HUÂN CHƯƠNG HỒ CHÍ MINH.

CỤ ĐỜI THỨ 20 TƯỞNG VĂN HỢP TỰ VĂN KèNH (1918 -1985).

KẾ TỤC VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA TỔ TIÊN, NGÀY NAY CON CHÁU HỌ TƯỞNG ĐÃ VÀ ĐANG ĐÓNG GÓP NHIỀU CÔNG SỨC TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ VÀ XÂY DỰNG TỔ QUỐC. BAN CỐ VẤN, BAN LIÊN LẠC, BAN KHÁNH TIẾT NGHỊ SỰ THỰC HIỆN TÂM ĐỨC CỦA TOÀN HỌ VỀ VIỆC TU TẠO LĂNG BIA. TỘC TRƯỞNG ĐỜI THỨ 21 TƯỞNG VĂN HOÀ CUNG Kí.

KHÁNH THÀNH NGÀY ĐÔNG CHÍ NĂM QUí MÙI “2003” CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.







( Mặt trước bia khắc bài vị )


                                             Nhị vị tổ tưởng tộc chi lăng


                        Thời                  Hiển tổ khảo mười chín đời tưởng quý công

                        Trần                              tự đức ngu phủ quân.

                         Mạt                   Hưởng dương 81 tuổi kỵ (5 -6) âm lịch.

                        Thuộc              Hiển tổ tỷ mười chín đời hiệu từ duệ an nhân.

                         minh                             kỵ (4 – 4) âm lịch

                         vĩnh                        Hai cụ tổ hợp táng tại đây

                         lạc                (sứ cây trai thuỳ canh long, toạ dậu hướng mão)


xét về ý nghĩa tầm quan trọng của việc học hành, đào tạo nhân tài, hồ chủ tịch từng nói: “non sông việt nam ta có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc việt nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, phần lớn nhờ công học tập của các cháu”.

đầu thế kỷ thứ xx, lãnh tụ lê nin từng nói: “học, học nữa, học mãi”.

Vào thế kỷ thứ xv, năm 1484 triều vua lê thánh tông, tại quốc tử giám văn miếu của dân tộc ta, cụ thân nhân trung đã soạn văn khắc bia đá: “hiền tài là nguyên khí của quốc gia….”.

Ngay từ thế kỷ thứ xiv vào thời nhà trần cụ tổ đức ngu tiên sinh đã từng răn dậy rằng: “người có năng lực thì làm được nhiều việc chứ dốt không có năng lực thì chẳng làm được gì, do vậy cần phải học nhiều không được tự mãn”.

Cụ tổ đức ngu tiên sinh là một tấm gương sáng về sự ham học hỏi, uyên bác, khiêm tốn, đức độ.

Dân tộc việt nam ta có truyền thống hiếu học, truyền thống tôn sư trọng đạo từ ngàn xưa. trong đó có họ tộc tưởng ta. Ngay từ thời kỳ rất xa xưa các vị tiên tổ đã hiểu được tầm quan trọng của việc học tập đào tạo nhân tài, đã chú ý quan tâm nhắc nhở con cháu học tập rèn luyện.

Con cháu nội ngoại ngày nay cần phải ghi nhớ, tự hào, ra sức phấn đấu rèn luyện để không làm hổ danh tiên tổ và sự mong đợi của các vị tiền nhân.

Hậu duệ đời thứ 21 kỹ sư tưởng thái hưng ghi lại nhân ngày dựng bia.

đông chí tháng 11 năm quí mùi 2003 chxhcnvn.


( Mặt sau bia khắc bài )


                             Sáng danh tiên tổ


Họ tưởng đã là một trong các dòng họ lâu đời trong cộng đồng các dân tộc việt nam kể từ thời thiệu phong cụ thuỷ tổ tưởng tướng công đức tiên công tiên sinh có gia phả đến nay đã hơn 700 năm, trảI tới 23 thế hệ, thế hệ nào cũng chăm học, chăm làm, khiêm nhường đức độ, thấm nhuần lời dạy của tổ tiên : “trung hiếu trì gia viễn-đức nhân xử thế thường” cho nên nhiều cụ học hành thành đạt.

Họ tưởng ta vốn là văn hiến, văn với võ đều hiền, đời danh vong nước nam.tại quê hương nơI đây còn truyền tụng câu ca “nguyễn tộc khai khoa-ngô gia lập ấp –tưởng tộc quận công”

Họ tưởng ta ở nước nam là một dòng họ có danh tiếng, thi đỗ khoa giáp, quan hàng tấn, thân vinh hoa vinh thịnh hàng trăm năm đến nay. quan cao đứng hàng quận công liên tiếp ba cụ, nổi tiếng nối đời là bậc hiền lương trung thần, thật xứng dang với bốn chữ vàng : “trung hiếu –nghĩa truyền”. mà người khôI ngô, bụng lành sáng, mỗi việc tốt đời cùng liền nhau.

Cụ tổ đây, tuổi trẻ rất ham học nên khi có tuổi tinh thông đủ loại kinh điển. tuy nhiên, cụ vẫn chưa lấy làm thoả mãn. cụ khiêm tốn tự đặt hiệu là ngu để tự răn mình gắng học hỏi hơn nữa (ví như các nhà thông tháI khi được các đấng quân vương hỏi ý kiến về việc gì, thường khiêm tốn nói: “theo ý ngu thần thì…”).cụ thường dạy con cháu : “người có năng lực thì làm được nhiều việc chứ dốt không có năng lực thì chẳng làm gì được gì. do vậy, cần phảI học nhiều không được tự mãn”. cụ tổ thật là tấm gương sáng về sự ham học mà khiêm tốn.

Nhân buổi thiên hoà toàn họ kính cẩn dựng bia xây lăng mộ cụ tổ, trên có biểu tượng khuê văn, biểu dương gương sáng của cụ tổ và các bậc tiền nhân tiên tổ, và công lao năm bậc tôn thân: cụ phúc toàn quận công, cụ đoan nghĩa quận công, cụ văn phong quận công, cụ phúc thành đại tướng quân, cụ đức hiển công là bậc trí thức họ ta đã làm rạng rỡ tổ tông, muôn đời ghi nhớ và kính cẩn phụng thờ.

Xưa nay, hiền tài là nguyên khí của quốc gia: nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. nguyên khí suy thì thế nước yếu và thấp hèn. đối với gia đình họ tộc cũng vậy: con cháu hiền tài thì vẻ vang hưng thịnh và rạng rỡ tổ tông.

Công đứcvà gương sáng của tô tiên, đặc biệt là tấm gương ham học hỏi mà khiêm tốn và lời dạy của cụ tổ như sao khuê soi sáng muôn đời. con cháu nôI, ngoại cần phảI noi gương, ra sức học tập phấn đấu để họ tưởng ta có nhiều hiền tài cho đất nước.

Là viễn tôn đồng lòng xin nguyện “tư bồi đức thụ –vụ quảng tâm điền” noi gương tổ tiên: “cần kiệm gây cơ nghiệp –trung hậu giữ gia thanh –chăm chỉ và học hành –làm rạng danh tiên tổ”

đoàn kết công bằng bác ái.

Tưởng tộc đồng kính báI

Hậu duệ đời thứ 21 kỹ sư tưởng tháI hưng cùng thừa lệnh mẫu mệnh kính làm bài ký.