Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
Ngược dòng lịch sử
Thứ tư, 03 Tháng 3 2010 16:27

Hiển thuỷ tổ khảo, Tưởng Tướng Công tự Đức Tiên Phủ Quân sinh vào khoảng đầu thế kỷ XIV, sống ngang đời Trần Dụ Tông, mất ngày 1-1 Âm Lịch khi mất táng ở xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Hiển thuỷ tổ tỷ Ngô Quý Thị hiệu Bảo Sinh An Nhân, mất ngày 15-7 Âm Lịch. Vào thời gian trước đó nước Đại Việt ta, dưới triều đại nhà Trần đã ba lần đánh tan quân Nguyên-Mông xâm lược vào các năm:

Kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ nhất (1258): Sau ba lần sai sứ sang Đại Việt dụ hàng đều không thấy về. Ngày 12 tháng 12 năm 1257 (Đinh Tỵ), Hốt Tất Liệt sai danh tướng Ngột Lương Hợp Thai đem 10 vạn quân sang xâm lược nước ta, dưới sự lãnh đạo của Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn, toàn quân và toàn dân ta đã dũng cảm chống lại một kẻ thù đế quốc Nguyên-Mông hung hãn và mạnh nhất thời đại bấy giờ, quân Nguyên-Mông đã chiếm đóng hầu khắp châu Âu đến tận Ba Tư và đã chiếm đóng gần hết Trung Quốc. Thế giặc mạnh quá, để bảo toàn lực lượng, ta phải bỏ kinh đô Thăng Long lui quân về giữ Mạn Trù, Khoái Châu, Hưng Yên. Quân dân Đại Việt ta đã dùng chiến tranh du kích, vườn không nhà trống để tiêu hao sinh lực địch, đợi cho kẻ thù bị quẫn bách về lương thực, khốn khổ vì không hợp thuỷ thổ. Quân ta tổ chức phản công địch ở Đông Bộ Đầu thắng lợi, quân Nguyên phải rút chạy về nước. Thế là đất nước ta sạch bóng quân thù, giữ vững được nền độc lập của tổ quốc. Ngày 24 tháng 2 năm 1258 (Mậu Ngọ), vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng.

Kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ hai (1285): Tháng 12-1284, vua Nguyên sai Thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang xâm lược nước ta, có thêm 10 vạn quân của Toa Đô chỉ huy từ Chiêm Thành đánh ra Nghệ An, kẹp ta vào thế bị đánh cả hai đầu. Giúp việc Thoát Hoan có Tả tướng Lý Hằng, Hữu tướng Lý Quán làm Tham tán nhung vụ và bọn đại tướng Toa Đô, Ô Mã Nhi, Đường Ngột Đải, Phàn Tiếp v.v….Trước khi quân Nguyên vào xâm lược nước ta, Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đã sắc phong cho Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế chỉ huy toàn bộ quân dân Đại Việt kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên-Mông. Các vua Trần đã tổ chức hội nghị quân sự ở Bình Than và tháng 8-1284, Hưng Đạo Đại Vương tổ chức tập trận ở Đông Bộ Đầu. Người đã công bố “Hịch tướng sĩ” để khích lệ lòng yêu nước của toàn quân, toàn dân. Các vua Trần đã tổ chức hội nghị các bô lão trong toàn quốc ở điện Diên Hồng để hỏi ý dân nên hàng hay nên đánh, cả nước đồng lòng” đánh”. Quân và dân ta khắc vào tay chữ “Sát Thát” (giết giặc Nguyên).Với quyết tâm giết giặc của toàn quân và toàn dân,dưới sự chỉ huy chiến lược tuyệt vời của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, để tránh thế mạnh của quân địch ban đầu, ta tổ chức đánh cầm cự, và bỏ kinh đô Thăng Long để bảo toàn lực lượng, dùng chiến tranh du kích để tiêu hao sinh lực địch đợi cho quân địch khốn khổ vì thiếu lương thực mới tổ chức phản công địch ở mọi phía. Với chiến thắng lẫy lừng ở Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp…chỉ trong vòng nửa năm, quân Nguyên bị đánh tơi bời, phải rút chạy, Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán bị chém đầu tại trận, còn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho người khiêng chạy về nước mới thoát chết. Ngày 6 tháng 6 năm 1285, quân và dân ta tiến về giải phóng kinh đô Thăng Long, mở hội ca khúc khải hoàn.

Kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ ba (1288): Sau hai lần xâm lược nước ta bị thất bại nhục nhã, vua Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt vô cùng căm giận ra lệnh đình chỉ việc chuẩn bị tấn công Nhật Bản để huy động 50 vạn quân ở các tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng, Giang Tây, Vân Nam và các châu ngoài biển như Nhai, Quỳnh, Đam….Vẫn trao cho Thoát Hoan thống lĩnh, cho A Bát Xích làm Tả Thừa, Áo Lỗ Xích làm Bình Chương sự, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp làm Tham tri chính sự đưa Trần Ích Tắc (Quốc Vương bù nhìn) sang xâm lược nước ta một lần nữa. Lại sai Vạn Hộ hầu Trương Văn Hổ theo đường biển vận tải 70 vạn thạch lương thực sang cung cấp cho quân xâm lược. Mùa đông năm Đinh Hợi (1287), quân Nguyên dưới sự chỉ huy của Trấn Nam Vương Thoát Hoan ồ ạt kéo vào xâm lược nước ta. Dưới sự chỉ huy tài giỏi tuyệt vời của quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Toàn quân và toàn dân ta lại dùng chiến tranh du kích, vườn không nhà trống để tiêu hao sinh lực địch. Ngày 24-11-1287, Hưng Đức Hầu Quán đã cho quân mai phục dùng tên thuốc độc bắn giêt được nhiều giặc ở cửa linh Kinh-Vũ Cao. Ngày 28-11-1287, Phán Thủ Thượng vị Nhân Đức Hầu Toán đánh lui địch ở eo biển Đa Mỗ (Móng Cái,Quảng Ninh). Ngày 28 tháng chạp năm 1287, quân ta phục kích bắn chết Sảnh đô sự hầu Sư Đạt của giặc tại ải Nội Bàng. Ngày 8-1-1288, quân ta đánh bắt được 300 thuyền giặc tại cửa biển Đại Bàng. Tại trận Vân Đồn, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem quân ra đón thuyền lương của Trương Văn Hổ gặp quân của Trần Khánh Dư hai bên giao chiến. Trần Khánh Dư thất bại. Vua Trần cho Trung sứ bắt về trị tội. Trần Khánh Dư xin ở lại lập công chuộc tội. Khanh Dư trở lại, chờ cho Ô Mã Nhi đi qua , đem quân tấn công vào đoàn thuyền chở lương thực. cướp được nhiều lương thực và vũ khí, còn lại cho đánh chìm xuống biển. Trương Văn Hổ phải lẻn xuống chiếc thuyền nhỏ trốn về nước (11-1-1288). Ngày 8 tháng 3 năm 1288, quân Nguyên hội ở sông Bạch Đằng để đón thuyền lương của Trương Văn Hổ nhưng không gặp. Trên khúc sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Đại Vương trước đó đã sai Nguyễn Khoái bí mật cho quân đóng cọc lim đầu bịt sắt xuống khắp lòng sông (khu vực Đò Rừng thị xã Quảng Yên, huyện Yên Hưng ,tỉnh Quảng Ninh). Ngày 8 tháng 3 năm Mậu Tý (1288), quân ta nhử địch đuổi theo khi thuỷ triều lên, đến lúc thuỷ triều xuống thì thuyền sa vào trận địa cọc, quân ta đánh quật lại, Hưng Đạo Đại Vương dẫn quân tấn công mãnh liệt ở mọi phía, quân giặc chết như rạ,máu loang đỏ cả khúc sông Bạch Đằng. Quân ta bắt sống Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc, Phàn Tiếp và hơn 400 thuyền giặc. Thoát Hoan khiếp đảm, từ Vạn Kiếp theo đường bộ chạy về nước. Thế là chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ ba của quân dân Đại Việt giành thắng lợi hoàn toàn. Vua Trần Nhân Tông đã cho đem các tướng giặc bị bắt là Tích Lệ Cơ Ngọc, Ô Mã Nhi, Sầm Đoàn, Phàn Tiếp, Nguyên soái Điền và các Vạn hộ, Thiên hộ làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng.

Đất đai ở làng Tó cách kinh đô Thăng Long khoảng 10km về phía Nam, ven sông Nhuệ, nhân dân tuân thủ chiến lược của Trần Hưng Đạo bỏ vườn không, nhà trống khi giặc Nguyên-Mông xâm lược khéo đến tàn phá xóm làng. Sau khi ca khúc khải hoàn, dân làng lại bắt tay xây dựng lại quê hương từ đống đổ nát. Xây dựng các gia trang, Đình Hoa Xá-Minh Ngự Lâu của làng thờ Bà Chúa Hến( Đô Hồ Phi Nhân) và vua Lê Hoàn.

Hiển Thuỷ Tổ Tưởng Đức Tiên sinh vào khoảng đời vua Trần Anh Tông (1293-1314). Thời đó vua khéo biết kế thừa sự nghiệp của tổ tiên, cho nên thời cuộc đi đến thái bình, chính trị trở lên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là một vua tốt của triều Trần. Hiển Thuỷ Tổ tuổi nhỏ khoẻ mạnh chăm chỉ học hành.

Đến đời vua Trần Minh Tông( 1314-1329), vua có lòng nhân hậu, biết tôn trọng nhân tài nên có nhiều hiền thần dưới trướng như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Ngguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hài, nhưng đã quá tin bọn nịnh thần giết oan chú ruột, đồng thời là bố vợ là Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn, một lỗi lầm lớn của Trần Minh Tông. Thuỷ tổ Tưởng Đức Tiên lúc đó trở thành một thanh niên trai tráng, tòng quân theo Thượng Hoàng đi tuần thú đạo Đà-giang, đi đáng man Ngư-hống. Thượng Hoàng sai Nguyễn Trung Ngạn đi theo để biên soạn thực lục. Chuyến hành quân này, thượng hoàng tự làm tướng, hiệu lệnh nghiêm minh,oai thanh rung động đến xa, người Ai-lao nghe tiếng chạy tan. Sau khi kéo quân về nước, doanh trại của Thuỷ Tổ đóng ở làng Tó, rồi Tổ gặp và lấy Hiển Thuỷ Tổ tỷ, là con gái họ Ngô, sau đó sinh Hiển Tiên Tổ khảo Tưởng Đức Tiến.

Đến đời vua Trần Hiến Tông(1329-1341). Vua lên ngôi mới 10 tuổi, ở ngôi 12 năm, những việc điều khiển triều chính đều do Thượng hoàng Minh Tông đảm nhận. Thuỷ Tổ Tưởng Đức Tiên giải ngũ cùng vợ, con ở đất làng Tó sinh cơ lập nghiệp tạo nên Tưởng gia trang. Đầu làng có Ngô gia trang, cuối làng có Nguyễn gia trang. Dân làng ở bên bờ tả sông Nhuệ bắt nguồn từ sông Cái(sông Hồng) chẩy vào qua Liên-mạc, Nhổn, Hà-đông, Đa-sĩ, Tó, Hữu-hoà, Đan-thầm, rồi suôi xuống Thái Bình mang dòng nước mát mẻ tưới cho các cánh đồng trù phú hai bên sông, nông dân làm ăn cấy cầy, con Trâu đi trước, cái cầy đi sau, ao sâu cá lội tung tăng, vườn rau trồng lấy, Lợn kêu vang chuồng, ngoài đồng Ngan, Vịt hàng đàn, trẻ con bơi lội giữa dòng sông trong. Tổ Tưởng Đức Tiến được sống trong gia đình khá giả ,bố mẹ thương yêu đùm bọc, được học hành tử tế , thường xuyên ra kinh thành chơi, trong làng thường chơi với anh em gia trang họ Nguyễn, gia trang họ Ngô đằng mẹ.

Đến đời Trần Dụ Tông( 1341-1369), vua rất thông tuệ, học vấn cao minh, chăm lo việc võ, sửa sang việc văn,cho nên đời Thiệu Phong chính sự tốt đẹp. Năm 1358 đổi niên hiệu là Đại Trị. Thượng hoàng Minh Tông mất, các trung thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng đã mất, bọn gian thần kéo bè kéo đảng, Dụ Tông thì rượu chè, chơi bời quá độ, khiến cho triều chính đổ nát, giặc dã nổi lên như ong, nhân dân cưc khổ trăm bề. Chu Văn An dâng “sớ thất trảm” xin chém 7 tên gian thần, nhưng vua không nghe, ông liền treo ấn từ quan về dậy học. Lúc đó Hiển tiên tổ khảo Tưởng Đức Tiến lấy Hiển Tiên tổ tỷ là con gái họ Nguyễn, rồi sinh hạ được Hiển Tiên Tổ khảo Tưởng Đức Ngu.Sau thời gian đó Hiển Thuỷ Tổ Khảo Tưởng Đức Tiên mất mộ táng ở gò Ngô công (hình con Rết) đồng Thao Vực Xứ. Thuỷ Tổ mất đúng vào mùng một tết Âm lịch. Gần đây các cụ Tổ trong họ họp quyết định tế Tổ họ Tưởng vào Chủ Nhật sau Rằm tháng Giêng hàng năm.

Biên soạn.

Bác sỹ Tưởng Văn Hoà.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1-Tóm tắt niên biểu lịch sử VIỆT NAM .

(của Hà Văn Thư -Trần Hồng Đức)

2-ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ.

(Kỷ tỵ năm thứ 6 “1329”-Biên tập: Bùi Cán)

3-Gia phả họ TƯỞNG đại tôn ở Tả Thanh Oai.

(Ông Tưởng Văn Hoà giữ)