Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
Lịch sử dòng họ
Thứ bảy, 06 Tháng 3 2010 03:16
 

Tại xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thủ đô Hà Nội hiện nay có một văn bia xác định tộc họ Tưởng là một đại tông Việt Nam. Văn bia này mô tả:

“Dòng tộc họ Tưởng thuộc dân tộc Kinh ở Việt Nam có nguồn gốc lâu đời, theo phả Tưởng Đại Tôn tại Tả Thanh Oai và các địa phương họ Tưởng tính đến nay là 23 đời, thời gian đã gần 700 năm”.

Nay tu tạo lăng bia, mặt trước bài vị 8 tổ táng tại đây, mặt sau khắc tổ họ Tưởng ở các địa phương, tộc trưởng các đời và tổ thúc hiển đạt.

Cụ Thuỷ tổ (sống ngang niên hiệu Thiệu Phong 1341-1357, Trần Dụ Tông), Tưởng Tướng công tự Đức Tiên,  sinh vào đầu thế kỷ XIV. Tổ mất táng tại Tả Thanh Oai - Thanh Trì - Hà Nội (Hà Đông cũ)

Tổ đời thứ 2, Tưởng Quý Công hiệu Đức Tiến Phủ Quân, (sống ngang niên hiệu Long Khánh, 1373 – 1377 )

Tổ đời thứ 3, (sống ngang niên hiệu Trùng Quang, 1409-1413), Tưởng Quý Công hiệu Đức Ngu Phủ Quân, thọ 81 tuổi

Tổ đời thứ 4, (sống ngang niên hiệu Thuận Thiên, 1428-1433), Tưởng Quý Cong hiệu Đức Chính Phủ Quân, thọ 99 tuổi, sinh được 6 người con trai.

Tổ đời thứ 5, (sống ngang niên hiệu Thái Hòa, 1443-1453, gồm sáu chi tổ là:

Chi trưởng: Tưởng Quý Công hiệu Phúc Khê

Chi 2: Tưởng Quý Công hiệu Hiền Nhân

Chi 3: Tưởng Quý Công hiệu Thư Hòa

Chi 4: Tưởng Quý Công hiệu Phúc Chính

Chi 5: Tưởng Quý Công hiệu Phúc Sơn

Chi 6: Tưởng Quý Công hiệu Phúc Huy

Nay hình thành 6 đại chi tộc có tới 19 đời, phát triển thành nhiều chi, nhánh, phái từ Bắc vào Nam.

Dưới đây là những địa phương có nhiều đời họ Tưởng đang sinh sống

Thành phố Hà Nội: huyện Thanh Trì, xã Tả Thanh Oai có 4 đại chi thờ thủy tổ 23 đời Tưởng Tướng công, tự Đức Tiên, thôn Huỳnh Cung có 2 chi thờ Tổ 13 đời Tưởng Tướng Công hiều Phúc Giang; xã Hữu Hòa có 2 chi thờ Tổ 13 đời Tưởng Quý Công hiệu Phúc Hà.

Tỉnh Hà Tây: huyện Thanh Oai, xã Phú Lương, thôn Văn Nội có 6 chi thờ Tổ 19 đời Tưởng Quý Công hiệu Phúc Sơn; huyện Chương Mỹ xã Hoàng Diệu có 2 chi thờ Tổ 8 đời Tưởng Minh; huyện Ứng Hòa, xã Tảo Dương Văn có 2 chi họ Tưởng.

Tỉnh Quảng Bình: huyện Quảng Trạch, xã Quảng Tùng, tỉnh Hà Tĩnh, huyện Kỳ Anh, xã Kỳ Liên, tỉnh Nghệ An; huyện Nam Đàn, xã Đồng Châu, làng Dương Liễu; huyện Thanh Chương, xã Quảng Thái, xã Bích Triều, các chi thờ Tổ 17 đời: Tưởng Quý Công hàm “Bắc triều đại Vương”

Tỉnh Quảng Nam: huyện Đại Lộc, xã Đại Hiệp, xã Đại Thạch; huyện Điện Bàn, xã Điện Thắng, Điện Tiến, Điện Hòa, Điện Hồng; thị xã Tam Kỳ; phường Trường Xuân: các chi tôn thờ tổ 11 đời “Tưởng Phủ quan công”

Hiện nay trên mọi miền Tổ quốc còn có nhiều chi tộc họ Tưởng đang sinh sống.

Họ Tưởng theo Đại Việt sử ký toàn thư năm 1406 có “Thiêm phán Tưởng Tư” đi sứ sang nhà Minh; năm 1448 có “Chuyển vận phó sứ Tưởng Thừa Hy” làm Trung đô phủ Thiếu Doãn”.

Tổ đời thứ 6: (niên hiệu Hồng Đức, 1470-1497) Tưởng Quý Công hiệu Đức Khê thọ 75 tuổi.

Tổ đời thứ 7: Tưởng Quý Công hiệu Từ Đạo (sinh 1498- mất 1573) hàm “Quang Tiến Trấn quốc đại tướng quân, phụng Thánh thiên định nhị vệ đô quản; lĩnh tước phúc toàn quận công”. Tổ thúc Tưởng Quý Công hiệu Đoan Tĩnh hàm: “Đặc tiến, kim vinh lộc đại phu tư lễ giám thủ thái giám tri quản ích viện, tước Đoan nghĩa quận công”.

Tổ đời thứ 8 Tưởng Quý Công hiệu Phúc Sơn (1523-1582) chức “Vũ Huân tướng quân hữu điểm kiểm”; Tổ thúc Tưởng Quý Công hiệu Phúc Ngộ, chức “Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Bảo trung thần ưng, nhị vệ đô quản Lĩnh Văn phong quận công”.

Tổ đời thứ 9, Tưởng Quý Công hiệu Đức Trí (1572-1672), chức “Tiến công Lang tri Thượng lâm viện sự”, sau theo đạo Phật được vua ban hiệu “Tông đầu tri tuệ Bồ Tát”. Tổ thúc Tưởng Quý công hiệu Phúc Thành, chức “Quang tiến Trấn quốc Đại tướng quân Hùng uy vệ quản lĩnh Thọ cường hầu”.

Tổ đời thứ 10, Tưởng Quý Công hiệu Đạo Cao (1610-1644) chức “Tiến công lang tri Thượng lâm viện”.

Tổ đời thứ 11, Tưởng Quý Công hiệu Đức Thái (1644-1714)

Tổ đời thứ 12, Tưởng Quý Công hiệu Đức Nhuận (1670-1717); Tổ thúc Tưởng Quý Công hiệu Đức Hiển đỗ khoa Tân Mão (1711), chức “Sơn Nam Đốc phủ, chủ bạ”.

Tổ đời thứ 13, Tưởng Quý Công hiệu Đức Thuỳ (1718-1789)

Tổ đời thứ 14, Tưởng Quý Công hiệu Đức Gia (1747-1822), “Cung thận lang, chức Tư vụ Bộ Hộ, tước Gia đức tử” Tổ thúc Tưởng Quý Công hiệu Đức Thành, hàm “Hoa sơn Đại tướng quân”.

Tổ đời thứ 15, Tưởng Quý Công hiệu Phúc Thuần (1766-1843) là “Phụng nghị đại phu, Sơn Nam trấn thư ký, tước Thanh sơn bá

Năm 1820, đại tộc họ Tưởng đã quyết định dựng bia: “Tưởng đại tôn hợp tự chi bia” để tế Tổ hàng năm vào ngày Chủ nhật sau rằm tháng Giêng.

Tổ đời thứ 16, Tưởng Quý Công hiệu Phúc Chân (1806-1872) là “Tổng giáo huyện Phù Yên, tỉnh Hưng Hoá”.

Cụ đời thứ 17, Tưởng Huy Điều hiệu Đức Cương (1844-1904) là “Thập lý hầu”.

Cụ đời thứ 18, Tưởng Bá Hoành hiệu Minh Ngọc (1870-1930) là “Lý trưởng hàm tòng cửu phẩm bá hộ”.

Cụ đời thứ 19, Tưởng Đại hiệu Hương Đại (1892-1966) làm Lý trưởng.

(Chi 2 đời thứ 19) cụ Tưởng Dân Bảo (1907-1947), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Đặc phái viên Uỷ Ban Hành chính kháng chiến Nam bộ, Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Châu Đốc. Mộ táng ở nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh, được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Cụ đời thứ 20, Tưởng Văn Hợp tự Văn Kình (1918-1985)

Kế tục và phát huy truyền thống tốt đẹp của tổ tiên ngày nay con cháu họ Tưởng đã và đang đóng góp nhiều công sức trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Ban Cố vấn, Ban Liên lạc, Ban Khánh tiết nghị sự

thực hiện tâm đức toàn họ về việc tu tạo lăng bia.

"Tộc trưởng đời thứ 21, Tưởng Văn Hoà cung ký,

Khánh thành ngày Đông chí năm Quý Mùi, 2003.

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


Tả thanh oai,

đất tổ tông họ tưởng Việt Nam

Nguồn gốc lâu đời của tông họ Tưởng Việt Nam ở Tả Thanh Oai, một làng cổ nằm về phía Tây trung châu Bắc bộ. Đây là vùng địa linh sản sinh được nhiều nhân tài nổi tiếng trong lịch sử qua nhiều thời kỳ, suốt từ hơn 700 năm qua.

Tại xã Tả Thanh Oai ngày nay có đình thờ bà Chúa Hến, nguyên là Quý Phi của vua Lê Hoàn, theo thần phải ở đình thì làng này đã có từ khoảng 1.000 năm trước. Xưa gọi là làng Tó, thuộc trấn Sơn Nam, sau Sơn Nam trấn đổi thành tỉnh Hà Đông, nay thuộc huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội.

Trong làng này có những tộc họ lớn với lịch sử lâu đời, câu truyền miệng trong dân gian xưa nay: “Nhất Tưởng, Nhị Ngô, Tam Nguyễn Tộc” ở trong làng chỉ rằng làng Tó đã có một thời kỳ khá thịnh vượng với một họ Tưởng, hai họ Ngô và ba họ Nguyễn. Các họ này có quan hệ thông gia với nhau qua nhiều thế hệ.

Còn thêm câu truyền miệng “Ngô lập ấp, Nguyễn khai khoa, Tưởng quận công” có nghĩa là họ Ngô được phong đất đầu tiên, họ Nguyễn đỗ đạt mở trường đầu  tiên và họ Tưởng phát về ngành võ được phong tước Quận Công.

Làng Tó có 9 tiến sĩ lưu danh trong Văn Miếu Quốc Tử Giám đều là người họ Ngô và họ Nguyễn. Riêng họ Tưởng có người phụ nữ là cụ bà Tưởng Thị Lăng làm dâu họ Ngô đã sinh ra tiến sĩ Ngô Thì Sỹ và là bà nội của tiến sĩ Ngô Thị Nhậm.

- Các dòng họ lớn, trong đó hẳn nhiên là có tông họ Tưởng, ở trong làng đều giữ được gia phả đến ngày nay. Bởi đó khi người ta đọc văn bia thấy rõ họ Tưởng còn đủ các thứ thế trong tông họ, tính từ Thủy Tổ cách đây gần ngàn năm, rất rành mạch, đầy đủ chi tiết hiếm có. Điều làm cho mọi người ngạc nhiênd dến mức thán phục là dù tông họ Tưởng có nhiều người đạt lắm thành tích ngành võ, vẫn giữ được phong thái văn ban, nền nếp giáo dục truyền thống gia tộc theo thể cách đôn hậu, tâm thành. Một nhà thờ Tổ họ do dòng trưởng giữ gìn và bia đá đàn tế tổ dựng cách đây vào khoảng 200 năm là những di tích quý giá hiếm có, không phải gia tộc nào cũng có thể giữ được.

Văn bia chữ Hán được dựng từ năm đầu tiên vua Minh Mạng (ngày Đông Chí tháng 11 năm Canh Thìn, 1820), ở phần kết có những lời thành tâm:

Cùng nối đời đạo đức tích luỹ đã lâu, nhớ về cội nguồn lòng này chẳng quên, ngửa mặt nương tựa tổ tiên che chở lưu lại khoảng ruộng 3 sào làm khu  mộ. Thửa đất này tổ tiên ta để lại có phong khí tốt. Nay kính cẩn tới đất ấy đắp đàn dựng bia, liệt kê thuỵ hiệu theo ngôi thứ nêu công đức sáng ngời để làm nơi hợp tế xuân hàng năm gồm toàn bộ bàn thống nhất thuận lòng và vị trí ruộng cúng đều khắc mặt sau bia truyền lợi lâu dài, nhĩ tôn Tưởng Đức gia cung kính”.

Những câu văn này có giá trị xác định tâm, nghĩa thực lòng của các thế hệ con cháu trong thờ phụng tổ tiên và sống đời thuần hậu theo gia huấn tông môn.

Điều này cũng được nhắc lại do kỹ sư Tưởng Thái Hưng, thay mặt Ban  Liên lạc họ Tưởng, báo cáo tại các cuộc Hội thảo khoa học về gia phả các dân tộc Việt Nam truyền thống và hiện tại ngày 12-13 tháng 5, 2001 tại Viện Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

"Trong phả còn ghi được nhiều cụ có công với đất nước: có 3 cụ làm đến chức Quận Công, có cụ làm đến chức Phụ Quốc Thượng tướng quân, Trấn quốc Đại tướng quân có truyền thống nối đời là bậc hiền lương trung thần của triều đình giúp dân giúp nước.

Các cụ căn dặn con cháu không được cậy thế ức hiếp dân lành, hại dân hại nước làm bại hoại gia phong đạo đức, đảo lộn phong tục. Các cụ còn dặn con cháu phải chăm chỉ lao động cố gắng học tập vươn lên để giúp nước:

"Cần phải học nhiều, không được tự mãn” sống với xóm làng phải lấy hoà nhượng làm đầu, phải làm nhiều việc thiện, phải chăm lo cho gia đình, đất nước. Tích đức cho con cháu và làm gượng tốt cho con cháu noi theo".

Các thế hệ con cháu luôn nhớ những lời di huấn của các bậc tiên Tổ là giữ được nền nếp gia phong, ăn ở phải đạo làm người. Đây là hiệu quả gia huấn và gia uy (kể cả gia pháp) của các tộc họ được khai sáng và phát triển do các đấng tiên nhân chú trọng văn hoá kỷ cương của tông tộc mình.

Những lời gia huấn của các đời Tổ tông tộc Tưởng Việt Nam đã chứng tỏ hiệu quả trong quá khứ và vẫn cần thiết cho hiện tại để tạo nên truyền thống văn hoá lễ giáo nghiêm minh cho tông tộc, nay đã làm rộng ra khắp nước.

Họ Tưởng ở Tả Thanh Oai truyền đến đời tổ thứ tư sinh ra  được 6 người con trai. Bốn người ở lại đất Tổ hình thành 4 đại chi, trong đó có chi trưởng, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Tuy lâu đời, các đại chi năm nào cũng tập hợp nhau lại làm lễ giỗ Thuỷ tổ. Con cháu tụ hội về tham dự rất đông, quan hệ gần gũi thành đại gia đình.

Trước đây đại tộc có ruộng họ, con cháu đi dự lễ giỗ Tổ không phải đóng góp gì cả. Quang cảnh lễ giỗ tổ họ đông vui mà nồng nàn ấm áp thắm thiết. Chẳng hạn như một lễ giỗ tổ họ Tưởng được thuật lại trên báo Văn nghệ Dân tộc (Hội Nhà văn Việt Nam) số 3 (115) 2005 của tác giả Đặng Bấy:

  • · Mỗi họ tộc có một ngày sum họp.

Bác sĩ Tưởng Văn Hoà khi đứng tuổi bắt đầu trở lại làm một cậu học trò chỉn chu để chăm sóc đời sống văn hoá tâm linh của họ tộc mình. Hồi trẻ bậc học hành, hết trưởng Y Hà Nội sang trường Y Quân đội, lớn lên theo các cánh quân đi dọc Trường Sơn tới kỳ thống nhất nước, rồi vào Tây Nam, ra Đông Bắc bảo vệ biên cương Đang phục vụ trong bệnh viện của Bộ Giao thông Vận tải, ông quyết định về làng mở phòng khám tại nhà, và mỗi năm, vị bác sĩ lão luyện lại bỏ ra hẳn 2-3 ngày để ôn lại những nghi thức cúng tế cho dịp lễ Tỗ của một họ mà ông chính là tộc trưởng đời nay. Giỗ Tổ Tưởng đại tộc được tổ chức vào ngày chủ nhật sau rằm tháng Giêng.

Năm nay, có cụ Tưởng Long, một chiến sĩ cách mạng lão thành hơn 60 năm tuổi Đảng, đã 86 tuổi vẫn theo ô tô Tam Kỳ, Quảng Nam về lễ Tổ và họp họ. Gần hơn một chút, có cụ Tưởng Văn Thư tròn 90 tuổi từ Quảng Bình về. Thêm nữa: một phụ nữ sung sướng được tôi bấm cho hai bà cháu một kiểu ảnh: cháu nhỏ đó mang trong người dòng máu của họ Tưởng, và ngày đêm nay cháu đã lại theo bố mẹ sang sinh sống tại nước bạn Lào

Kết quả của mỗi lần giỗ Tổ và họp họ củng cố thêm sự đúng đắn của đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tạo tiền đề cho việc phát huy những truyền thống tốt làm vẻ vang họ tộc. Sau những nghi thức cúng tế trang trọng và thành kính là hoạt động công đức - thế hệ hiện đại của họ Tưởng đã tổ chức tu sửa nhà bia, mộ Tổ bền vững, khang trang; sửa sang nhà thờ Tổ, thăm hỏi chi tộc ở các địa phương và ấn hành 2 số nội san Thông tin họ Tưởng.

Ngắm các cụ ông cụ bà thành kính nhận quà mừng thọ và những cháu nhỏ hân hoan nhận phần thưởng khuyến học tại sân nhà thờ Tổ, tôi càng cảm kích lời mời tha thiết của anh em vị tộc trưởng đời thứ 21 - bác sĩ Tưởng Văn Hoà và kỹ sư sinh hoá Tưởng Thái Hưng! Có lẽ, không chỉ riêng tôi - chắc còn khá nhiều người - mãi đến bây giờ mới được biết rằng: phát tích từ làng Tó trấn Sơn Nam tỉnh Hà Đông, có một dòng họ Tưởng thuần Việt đã sinh sôi khắp cả ba miền Bắc-Trung-Nam, cùng các họ tộc, dân tộc anh em không ngưng nghỉ góp phần bảo vệ và dựng xây đời sống vật chất cả tinh thần cho đất nước!

  • · Lan toả và thành tích.

Người con thứ 5 và thứ 6 của cụ Tổ thứ tư được triều đình phong kiến xưa cử đi trấn ải các vùng biên cương phía Nam của đất nước (lúc bấy giờ biên giới nước Đại Việt còn đang ở vị trí của dãy núi Hải Vân). Từ đó phát sinh những dòng tộc họ Tưởng lan toả về phương Nam.

Hiện nay dòng tộc họ Tưởng đã xác định được các đại chi tộc định cư sinh sống có nhà thờ và mộ tổ ở các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Hà Tây và Hà Nội.

Đất Tả Thanh Oai ở vào vị trí bảo vệ Kinh thành Thăng Long vào mọi thời kỳ nên thời bình được trú phú, có nhiều nhân tài, còn trong thời chiến thì đinh tráng trong làng đều phải tham gia bảo vệ đất nước, cho nên con trai họ Tưởng cũng phát triển theo hướng đó.

Theo gia phả chi trưởng đang giữ thì có tới 15 Tổ thúc các đời, hậu duệ đi lập nghiệp trên khắp các miền đất nước.

Về thành quả, hiện nay được biết:

- Các cụ cao niên từ 70 tuổi trở lên và các cụ lão thành cách mạng có 20 cụ. Nhiều người công thành danh toại.

- Bà mẹ Việt Nam anh hùng: 1 cụ bà

- Quan chức và khoa bảng:

- Tiến sĩ: 2 vị

- Kỹ sư, bác sĩ, thạc sĩ: 25 vị.

- Giám đốc doanh nghiệp Nhà nước: 2 vị

- Quân đội: 2 vị ở cấp đại tá

các chi tộc địa phương

1. Chi tộc (thôn Văn Nội) Hà Tây.

Người con trai thứ 5 của cụ Tổ thứ tư (Đệ tứ Đại Tổ khảo Tướng Quý Công, tên chữ là Đức Chính phủ Quân)  định cư gây cơ nghiệp tại thôn Văn Nội - xã  Phú Lương - huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (trước năm 1954 là thôn Văn Nội, Tổng Phú Lãm, Thanh Oai, tỉnh Hà Đông), trở thành đệ nhất Đại Tổ khảo tại Văn Nội.

Danh tính cụ Tổ họ Tưởng ở thôn Văn Nội là Tưởng Quý Công hiệu Phúc Sơn, tên chữ là Đặng Nguyên, sống và hoạt động vào niên hiệu Thái Hoà đời vua Lê Nhân tông (1443 – 1453).

Thôn Văn Nội là một làng cổ thuần Việt từ xưa đến nay. Cả làng xã đều theo đạo Phật. Năm 1981, tại cánh đồng thôn Văn Nội, các nhà khảo cổ học đã tiến hành khảo sát, xác định vùng thôn này có từ thời Hai Bà Trưng (vào khoảng năm 39 sau Công nguyên).

Cả tổng Phú Lãm, nay là hai xã Phú Lương và Phú Lãm gồm 12 thôn, từ xưa đã hình thành một chiến tuyến chống giặc ngoại xâm kéo dài hơn 3km suốt dọc chiều dài của hai xã. Tại đây, đền thờ các vị tướng và sắc phong Thành Hoàng của các vị thần được triều đình phong kiến phong tặng cùng các nghi thức tế lễ tại các đền, đình trong cả 12 thôn đã thể hiện rất rõ.

Một sự kiện rất đáng chú ý là vào năm 2001, dân thôn Văn Nội đã đào được và bảo quản một trông đồng cổ có niên đại ngang với trống đồng Ngọc Lũ, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng lịch sử tỉnh Hà Tây.

Theo kỹ sư Tưởng Phi Vượng, hậu duệ dòng họ Tưởng tại thôn Văn Nội, đời thứ 17, viết trong “Sơ lược về dòng tộc họ Tưởng – Tưởng tộc thế phả” cho biết vài điểm truyền thống của dòng tộc này.

“Dòng tộc họ Tưởng tu nhân tích đức, chăm chỉ làm ăn, đoàn kết tương thân tương ái với các dòng họ khác trong làng xóm sinh con đàn cháu đống, hình thành ra 6 chi nhánh. Đến đời chúng tôi ở lứa tuổi từ 60-70 (của thế kỷ XX-XXI) là đời thứ 17, tại Văn Nội, Hà Tây (tương ứng đời thứ 21 của đại tộc họ Tưởng tại xã Tả Thanh Oai, Hà Nội)…

… Dòng họ Tưởng tại Văn Nội hễ là con trai đều có chữ đệm là Phi (Tưởng Phi…). Đây là một điều rất rõ nét vì thế con em họ Tưởng đi lầm ăn sinh sống ở nhiều địa phương khác nhau đã nhận ra nhau từ đặc điểm đó.

Họ Tưởng cùng với các họ khác trong thôn Văn Nội cần cù làm ăn xây dựng quê hương, có chí tiến thủ, chịu khó học hành. Hiện tại, họ Tưởng thôn Văn Nội có nhiều vị là đại tá quân đội, kỹ sư, bác sĩ, giám đốc các doanh nghiệp Nhà nước, lãnh đạo cấp vụ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, lãnh đạo cấp tỉnh của tỉnh Hà Tây, nhiều thợ giỏi và doanh nhân thành đạt, một số cháu là học sinh giỏi.

Nhờ phúc ấm của tổ tiên và sự cần cù lao động sáng tạo của con em họ Tưởng tại thôn Văn Nội hiện có nhiều hộ làm kinh tế khá giả, không còn hộ đói nghèo. Một số gia đình đang định cư ở nước ngoài cũng đã thường xuyên hướng về quê cha đất tổ, dòng tộc đã trở lại quê hương thăm viếng mộ tổ hoặc gửi thư về thăm hỏi giữ ấm áp tình quê hương dòng tộc”.

2. Chi tộc  thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Theo lời kể lại của ông Tưởng Văn Quế, hậu duệ đời thứ 12 chi tộc Huỳnh Cung thì thủa xưa cụ Tổ ông đến đất Huỳnh Cung để lập gia đình, sau đó một mình bôn tẩu ngược xuôi kiếm kế sinh nhai. Gia phả chi tộc ghi lại: cụ Tổ sống bằng nghề buôn bán tơ tằm vải vóc, giao lưu giữa miền ngược và miền xuôi bằng thuyền bè thường xuyên trên sông nước.

Cụ kết duyên với hai cụ bảơ làng Huỳnh. Tổ bà thứ nhất sinh được trưởng nam là Tưởng Thời Trung, chết lúc còn nhỏ. Bà thứ hai sinh được hai người con trai là cụ Tưởng Đình Tiên và cụ Tưởng Đình Hiền.

Gia phả chỉ ghi tên hiệu cụ Tổ Ông là Phúc Giang, một tên hiệu có tính cách đặc trưng về sự tích, sự nghiệp, số phận và cuộc đời của tổ chi Huỳnh Cung.

Đã nhiều đời, chi tộc họ Tưởng ở Huỳnh Cung và đại tộc họ Tưởng xã tả Thanh Oai gắn kết tình anh em, giao lưu qua lại, nhân dịp giỗ Tổ hàng năm. Trong tiềm thức những người con họ Tưởng chi Huỳnh Cung từ xưa đến nay đều tâm niệm rằng tổ tiên và nội cố hương của chính mình là làng Tó tức xã Tả Thanh Oai bây giờ.

Cụ Tổ chi họ Tưởng Huỳnh Cung  vào thập kỷ đầu của thế kỷ XVII thời gian khoảng 400 năm, tính đến nay đã có 13 thế hệ.

Từ đời cụ đệ nhất Chi Tổ đến đời thứ 5 phần lớn hướng theo sự nghiệp buôn bán.

Cụ tổ đời thứ 6 học hành thành đạt thi đỗ khoa trường sau được vào nội phiên Triều Lê, được giao trách nhiệm là “ hữu phiên phó hợp kỳ” được thụ tướng đồ chức. Sau lại được bổ nhiệm chức tư thừa  ở huyện Vĩnh Khang. Cụ được hai đạo sắc phong.

Cụ tổ đời thứ 7, thứ 8 được dân làng tín nhiệm bầu làm lý trưởng lại có nghề thầy thuốc và dậy học.

Cụ tổ đời thứ 9 tham gia quân đội triều đình nhà Nguyễn, được phong làm thất phẩm.

Đời thứ 10 có cụ  tham gia thế chến thứ nhất chống phát xít Đức rồi tiếp tục binh nghiệp được phong hàm bát phẩm.

Đời thứ 11 có 4 cụ ông, 3 cụ đã mất, còn lại 1 cụ nay đã 86 tuổi, các cụ sinh ra và trưởng thành vào thời kỳ Pháp thuộc và cách mạng tháng Tám, đều là người dân lương thiện. Hoà bình lập lại (1954) là cán bộ công nhân viên nhà nước.

Đời thứ 12 tức thế hệ hiện tại, gồm 13 đinh nam, tuổi đời từ 50-60 tuổi đều là cán bộ công nhân viên chức nhà nước, một số đã nghỉ hưu, có nhiều anh em trong số này là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hậu duệ đời thứ 13 có 20 cháu trai hiện tại có 6 cháu đang là sinh viên các trường đại học và cao đẳng, còn lại đều học hết cấp 3 hoặc đang theo học các lớp phổ thông.

3. Chi tộc Nghệ An: Theo “Tưởng Gia tộc Ký – Gia phả họ Tưởng Nghệ An”, (nguyên bản của cố soạn giả Tưởng Đăng Phú, được bổ sung và hiệu đính do hậu duệ đời thứ 17 họ Tưởng ở Phúc Kiều là Tưởng Khoa Nguyên Tuất) thì:

Người con trai thứ 6 của cụ Đệ tứ tổ (ở Tả Thanh Oai) là người thông hiểu kinh sử, tài giỏi võ nghệ được triều đình sắc phong binh tướng trấn ải biên thuỳ, và đã rời đất tổ từ thuở đó…

Vào thời điểm này có một vị quan, một vị tướng là Tưởng Đông Cung, được biết với các chức vị: “Đại Vương tôn thần, Vi vấn quê hầu, Vị vệ thái sư, Vi chưởng thư khanh ấm trạch, Trùng quang thiện vĩ, Bắc triều Đại Vương Thuỷ Trì… Chư tôn Mỹ tự tôn thần, cước thuýêt, tổ hệ từ Bắc thiện lai, Quảng Bình tỉnh, Tổng Chất xã…

Sau khi dẹp giặc, đất nước yên bình ngài ở lại sinh cơ lập nghiệp tại đây (Nghệ An), cụ Tưởng Quý Công hiệu Đông Cung làm Bắc triều Đại Vương, niên hiệu Thái Hoà (1443-1453) đời vua Lê Nhân Tông, trở thành đệ nhất Đại Tổ khảo tại thôn Phúc Kiều, xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Đệ nhị Đại Tổ khảo là cụ Tưởng Yên

Đệ tam Đại Tổ khảo là cụ Tưởng Kỹ

Đệ tứ Đại Tổ khảo là cụ Tưởng Thọ, tức Tưởng Văn năm 35 tuổi đậu tiến sĩ, 45 tuổi được phong tước Khuê Văn Hầu.

Đệ ngũ Đại Tổ khảo là cụ Tưởng Số (tức Tưởng Đức được phong Tiền triều sĩ vệ Thái sư, cứu quốc nạn.

Đệ thất Đại Tổ khảo là cụ Tưởng Ký được phong Tiền triều Binh bộ Chưởng thư ký, Thanh Xuân lĩnh nam. Cụ bà là Phạm Thị Não.

Đệ bát Đại Tổ khảo là cụ Tưởng Uý. Cụ Tưởng Quý sinh ở Quảng Bình mất ở làng Dương Liễu, xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Vợ cả ở Quảng Bình có một con trai là Đại Tôn, dòng dõi con cháu ngày naỷơ thôn Phúc Kiều. vợ thứ ở Nghệ An có một con trai là cụ Tưởng Uy Hùng, cụ bà Lê Thị, hiệu là Trung Tôn, dòng dõi con cháu ngày nay ở làng Đông Châu, Quảng Thái và Bích Triều ở Thanh Chương; làng Dương Liễu, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Theo ghi chép của ông Tưỏng Văn Quế, đại diện chi Huỳnh Cung (mùng 2 tháng chạp, 11/1/2005) ngoài Nam Đàn, Nghệ An, còn có một số gia đình họ Tưởng sống ở xã Kỳ Liên, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây có một thôn họ Tưởng với khoảng 30 hộ gia đình và 6 thế hệ di cư từ Quảng Bình ra sinh sống.

Tại xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có chi họ Tưởng gồm 17 thế hệ, một nhà thờ Tổ theo kiểu đền thờ cổ. Hậu duệ chi tộc họ Tưởng huyện Nam Đàn có nhiều người học giỏi thành đạt… đang công tác trên khắp mọi miền đất nước.

4.  Dòng tộc họ Tưởng tại thôn Phúc Kiều, xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Ngày xưa, có hai anh em trai từ phương Bắc tới sinh cơ lập nghiệp tại vùng đất này. Thuở ấy là thuở nào, nơi ấy gọi là gì, không ai còn nhớ. Sau một thời gian, người anh ở lại còn người em đi mở cơ nghiệp tại vùng Nghệ An.

Thôn Phúc Kiều được gọi tên từ bao giờ cũng chưa ai rõ. Người đời chỉ biết một ngôi mộ đã có từ rất lâu gọi là “Mồ Ông Lệ” được coi là ngôi mồ cổ nhất của thôn Phúc Kiều: Đại Tổ Khảo Tưởng Quý Công , tên chữ là Khai Khẩn Phủ Quân; Cụ tổ bà đến nay chưa rõ. các cụ sống và hoạt động vào niên hiệu Thuận Thiên đời vua Lê Thái Tổ, hoặc niên hiệu Thái Hoà đời vua Lê Nhân Tông.

Các cụ cao niên ước tính dòng họ Tưởng sinh cơ lập nghiệp nơi đây khoảng 17 đời, tương đương 500 năm về trước.

  • · Dòng họ Tưởng ở Quảng Bình.

Dòng họ Tưởng đang sinh sống tại thôn Phúc Kiều và các thôn lân cận trong xã cùng với 2 chi ở Mỹ Đức – Lệ Thuỷ và Kỳ Liên – Kỳ Anh; khoảng 500 hộ ứng với 1500 đinh và tạm thời chia thành 6 họ (theo ông Tưởng Thanh Đua, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Quảng Tùng) như sau:

1. Họ ông Uỷ: Ông Tưởng Uỷ sinh vào khoảng năm 1920, mất năm 1990, không con trai; ông thứ là Tưởng Hàm mất năm 2003, hiện tại cháu đích tôn của ông Hàm là trưởng họ. Nhà thờ họ được xây lại năm 2002, họ có khoảng 100 hộ ứng với 300 đinh. Đang lưu giữ gia phả họ tộc.

2. Họ ông Vẹt: Ông Tưởng Vẹt tên thường gọi là Cống Vẹt sinh vào khoảng 1920, mất năm 1986, không có con trai ông thứ là Tưởng Nhục mất năm 2001, con trai ông Nhục là trưởng họ. Nhà thờ họ chưa được xây lại, họ có khoảng 100 hộ. Đang lưu giữ gia phả họ tộc. Họ này di cư nhiều, có nhiều khả năng dòng họ Tưởng tại Quảng Nam Đà Nẵng có nguồn gốc từ đây.

3. Họ ông Vưng: Ông Tưởng Vưng sinh năm 1921 mất năm 1966, ông thứ là Tưởng Tuân sinh năm 1923, mất năm 2001, con trai trưởng họ: Tưởng Khoa Đức Huấn, họ có khoảng 100 họ, gồm 2 chi Lệ Thuỷ và Kỳ Anh. Gia phả họ tộc đã bị mất vào năm 1966 ( khi chiến tranh ác liệt). Nhà thờ được xây dựng lại và khánh thành vào ngày 6 tháng Chạp năm Quý Mùi.

4. Họ ông Thể: Ông Tưởng Trọng Thể sinh năm 1935, hiện là trưởng họ, đang tìm kiếm sưu tầm họ tộc. Nhà thờ chưa xây dựng lại.

5. Họ Xóm Soi: Ông Tưởng Hồng Chân sinh năm 1950 là trưởng họ, hiện sinh sống tại Hải Phòng đang tìm kiếm tập hợp họ tộc. Nhà thờ chưa xây dựng lại. Họ có khoảng 100 hộ.

6. Họ Tưởng khác đang tìm kiếm và sưu tầm.

  • · Cuộc sống hiện tại.

Đa số bà con dòng họ Tưởng tại Quảng Bình sinh sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi. Kinh tế trung bình không có người quá giàu, không có người nghèo. Truyền thống hiếu học, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Sự nghiệp phát triển đa dạng, đời nào cũng có người làm quan chức, năm nào cũng có các cháu thi đỗ vào đại học và học sinh giỏi cấp trường, huyện, tỉnh. Có bà mẹ Việt Nam anh hùng. Trong binh nghiệp cấp hàm cao nhất là Đại tá, trong hành chính chức vụ cao nhất là Chủ tịch UBND huyện, trong kinh doanh vị trí cao nhất là Tổng giám đốc… Ước nguyện của dòng họ Tưởng tại Quảng Bình là được giao lưu, học hỏi, thăm viếng tất cả bà con anh em trong dòng tộc họ Tưởng đang làm ăn sinh sống trên khắp mọi miền Tổ quốc.

(Hậu duệ dòng họ Tưởng tại thôn PHúc Kìêu đời thứ 17)

(Theo Kỹ sư Tưởng Khoa Nguyên Tuất)


5. Tóm tắt dòng họ Tưởng tại Quảng Nam - Đà Nẵng.

Theo lời truyền, vào thế  kỷ XVI, tính đến nay khoảng 400 năm, dòng tộc họ Tưởng từ phương Bắc di chuyển vào. Tương truyền khởi đầu có một ông quan võ họ Tưởng được cử vào trấn nhậm. Tiếp theo là những người thuộc họ Tưởng đến khai cư tại thôn Phong Lục, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Lúc bấy giờ nơi này còn là vùng hoang địa quan Trấn thủ tập hợp được dân chúng địa phương khai khẩn đất đai, lập làng ấp.

Sau nhiều cuộc chiến đấu chống thiên tai, gữi làng giữ đất, ông đã anh dũng hy sinh tại cánh đồng xã Điện Thắng. Mộ ông được dân làng an táng tại nơi đây.

Từ nhiều đời qua nhân dân trong vùng đã xây và gìn giữ đền thờ ngài. Di tích đền thờ vẫn còn tới ngày nay dưới tán một cây cổ thụ vài trăm tuổi. nhân dân trong khu vực Điện Thắng vẫn tới ngôi mộ của ngài thắp hương cầu khấn và cho rằng ngài rất linh thiêng, luôn phù hộ cho cư dân trong khu vực được mọi sự an bình.

Con cháu họ Tưởng gần đây đã đưa bia mộ ngài dời về núi Sơn Gà xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

Khi vào miền Trung lập nghiệp ông có đem theo 4 người con trai:

- Ông thứ nhất ở xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

- Ông thứ hai ở xã Đại Thạnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

- Ông thứ ba ở xã Đông Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

- Ông thứ tư ở phường Trường Xuân, thị xã Tam Kỳ.

* Sự phát triển của dòng tộc họ Tưởng ở Quảng Nam hiện nay

Hiện tại dòng tộc có 190 hộ ứng với 950 nhân khẩu, đã đóng góp cho đất nước qua các thời kỳ chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ. Có hàng trăm con em tham gia hoạt động cách mạng, nhiều người trong số đó đã hy sinh anh dũng trong sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Đến nay Nhà nước đã công nhận dòng họ Tưởng có 6 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 29 liệt sỹ, 4 vị lão thành cách mạng và nhiều gia đình có công với cách mạng.

Đời sống của bà con trong dòng tộc đến nay đã được ổn định, con em đến tuổi trưởng thành đều tham gia công tác xây dựng địa phương, đất nước. Chức vụ cao nhất đã kinh qua là:

- Một vị chủ tịch huyện.

- Một vị là thường vụ thành uỷ thành phố Đà Nẵng.

- Nhiều chiến sĩ thi đua cấp tỉnh.

- Nhiều kỹ sư, bác sỹ.

Các cháu trong tộc họ rất chăm chỉ học hành; từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay đã có 19 cháu thi đỗ vào các trường đại học, có 1 cháu đỗ điểm cao vào hai trường đại học, được chọn đi du học tại úc, (Theo Tưởng Riêng).

6. Dòng tộc họ Tưởng tại thị xã Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam

Tương truyền dòng tộc họ Tưởng tại Tam Kỳ xuất xứ từ xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam vào khoảng đời vua Thành Thái. Theo gia phả thì ông Tổ vào khai cơ lập nghiệp đầu tiên tại An Tân, dần dần phát triển ra  Vạn Tam Kỳ. Đến các đời sau con cháu định cư tại Ngọc Thọ nay là phường Trường Xuân thuộc thị xã Tam Kỳ, hiện có gia phả bằng chữ Nho của các cụ để lại đây và đã xây nhà thờ Tổ tại đây (gọi là từ đường). Cứ đến ngày 19 tháng Chạp âm lịch là ngày giỗ Tổ, con cháu tập hợp kỷ niệm để dâng hương tổ tiên, ông bà và cũng là ngày tu bổ mộ gia tộc.

Dòng tộc họ Tưởng ở Tam Kỳ, Quảng Nam có 3 thế hệ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc làm cách mạng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong một gia đình có 3 anh em hoạt động cách mạng, bị địch bắt tù đày ở các nhà tù Hội An, Phú Bài, Huế. Đã có 2 người là liệt sỹ.

Ngày nay con cháu họ Tưởng phường Trường Xuân thị xã Tam Kỳ, Quảng Nam đang phát triển, đời sống đã khá hơn rất nhiều so với trước đây, mọi người đều tin tưởng vào cuộc sống mới hăng say lao động, học tập, tin tưởng vào những ngày mới tốt đẹp hơn, có ý chí vươn lên phía trước, hướng tới tương lai sáng lạng (Theo Tưởng Long).


Tông tộc tưởng trong

Cộng đồng dân tộc


Tông họ Tưởng là một đại tộc phát triển từ khoảng 700 năm qua, trong cộng đồng dân tộc không ngừng vun bồi và bảo vệ đất nước, tạo được phong cách riêng. Đại tông này là một trong những đại tông còn lưu giữ được khá đầy đủ, cao danh quý tính của các bậc tiên nhân, tiền bối và tông sử trong suốt thời gian hơn 7 thế kỷ nhiều truân chuyên xáo động trong xã hội nước nhà, quả là một chứng tích kể ra cũng khá lạ lùng.

Việc thiết lập và nối kết các tông chi của các họ dân tộc Việt Nam và riêng của đại tông họ Tưởng từ mười năm qua, kể từ 1995 đã là một cao trào tuy trầm lắng, kín đáo cũng có giá trị lớn cho việc tham khảo văn hoá, lịch sử truyền thống đại gia đình dân tộc Việt Nam. Công việc này cũng giúp ích cho các thế hệ sau hiểu được rõ ràng hơn nhờ đâu mà nước nhà tồn tại bền vững. Có lẽ không có chứng cớ nào gây được niềm tin thuyêt sphục cho người các dòng họ bằng phả sử, truyền thống gia huấn, gia phong và gia uy được ghi lại trong tông phả và gia phả.

Đây là điều luôn làm suy nghĩ của các vị cao niên đứng đầu các dòng tộc có trách nhiệm và ý thức về huyết thống của tộc họ mình.

Tộc họ Tưởng đã làm được nhiều việc trong khuôn khổ đó, cho thấy những nỗ lực của các thế hệ hậu duệ ngày nay khiến người ta tâm đắc, chú ý. Cũng nhờ đó, trong tham khảo văn hoá lịch sử, người biên soạn sách này mới hiểu được người họ Tưởng cũng chẳng phải chỉ lan rộng ra tới Quảng Bình, Quảng Nam, thật sự đã từng đặt chân đến vùng đất phương Nam từ lâu.

- Một số người họ Tưởng xưa kia cũng làm được những việc bình thường nhưng khi suy nghĩ, người đọc phả ký hay tiểu sử hoặc truyện thuật của dòng tộc, bây giờ thấy rõ đó chẳng phải bình thường mà là những kỳ tích lạ lùng. Chẳng hạn như “Thân thế và cuộc đời ông Tưởng Dân Bảo” do người cháu ruột là đại tá Tưởng Duy Hiếu kể lại sau đây:

“Ông Tưởng Dân Bảo sinh năm 1907, tại làng Tó, Tả Thanh Oai (trước thuộc huyện Thanh Oai, Hà Đông, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông là đời thứ 19 con thứ năm của cụ Tưởng Văn Tự và bà Trịnh Thị Tiến thuộc Chi 2 ngành 2 nhánh 3 họ Tưởng.

Lên 5 tuổi theo gia đình ra Hải Phòng ở, đi học, thi đỗ bằng tiểu học Pháp – Việt (d’étude Primaire d’élémentaire. PCS chú thích). Năm 18 tuổi công có dáng người khoẻ mạnh, cường tráng; người dong dỏng cao, mặt trái xoan, trán cao, mắt sáng. Tính nết hiền lành điềm đạm, thông minh nhận thức nhanh, nói năng hoạt bát vui vẻ dễ gần mọi người. Do hoàn cảnh gia đình không có điều kiện học tiếp phải đi làm nuôi thân, đi làm thư ký đánh máy cho một công sở thuộc chính quyền thành phố. Trong quá trình tiếp xúc với chủ Pháp ông thấy chúng rất hống hách coi khinh những người dưới quyền và bị làm nhục nhiều lần. Nhìn ra xã hội bên ngoài thấy đồng bào ta quá nghèo khổ, làm lụng vất vả quanh năm mà vẫn không đủ ăn, trong đầu óc ông từng bước hình thành lòng yêu nước, yêu đồng bào, căm thù oán ghét bọn thực dân Pháp.

Ông bỏ việc không đi làm nữa, thoát ly gia đình tập họp một số bạn bè thân thiết cùng chí hướng, ban ngày đi bán báo, bán bánh mì, viết báo để kiếm sống, ban đêm dành nhiều thời gian đọc sách báo trao đổi tình hình thời sự trong nước và thế giới, mò mẫm đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc với mong muốn mang lại cuộc sống ấm no, tự do cho mọi người.

Trong bối cảnh đó, năm 1926 ông gia nhập Việt Nam quốc dân đảng hoạt động bí mật ở Hải Phòng.

Qua một năm hoạt động ông tỏ ra là một người có trình độ và có nhiều công lao nên năm 1927 (lúc đó ông tròn 20 tuổi), ông được phân công phụ trách Việt Nam khách sạn (Việt Nam Hotel) ở Hà Nội. Đây là một tổ chức kinh doanh tạo nguồn tài chính cho đảng, đồng thời là nơi liên lạc hội họp của đảng. Khách sạn có một dàn nhạc dân tộc trong đó ông Bảo chơi đàn tranh, đàn tính, kéo nhị trình bày và phổ biến các bài ca yêu nước. Thời gian này thỉnh thoảng công có về thăm gia đình, khi bà mẹ thân sinh ra ông mất, ông về lần cuối cùng vĩnh biết mẹ và cùng các anh chị lo việc lễ tang chu toàn cho mẹ rồi ra đi.

Cuộc khởi nghĩa Yên Bái không thành công và sự việc tên mật thám Bazin khét tiếng chống phá cách mạng bị ám sát. Bọn thực dân Pháp tung cảnh sát và lính kín đi dò la tin tức lùng sục vây bắt những người tình nghi. Ông Bảo bị bắt tại Việt Nam khách sạn cùng một số người khác, tất cả đều bị tống giam vào nhà tù Hoả Lò. Trong khi hỏi cung chúng tra tấn đánh đập dã man. Ông rất gan dạ, dũng cảm chịu được mọi cực hình tàn bạo mà không hề khai báo gì. Cuối cùng ông bị đưa ra Toà đại hình xét xử, bị kết án 10 năm tù cấm cố và đầy ra Côn Đảo.

ở Côn Đảo ông được tiếp xúc với nhiều tù chính trị thuộc các đảng phái khác nhau. Ông gửi thư về cho gia đình nhờ mua các sách tự học tiếng Pháp, tiếng Anh để nâng cao trình độ làm cơ sở cho việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin về Cách mạng tháng 10 Nga và các quan điểm tư tưởng của Nguyễn ái Quốc nói về cách mạng dân tộc dân chủ, về con đường cứu nước đăng trên các tờ báo xuất bản ở Pháp.

Qua việc tự tìm hiểu nghiên cứu của bản thân và nhất là sự giúp đỡ hướng dẫn của nhiều đảng viên cộng sản ưu tú như Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng… ông hiểu rõ được mục đích lý tưởng của Đảng Cộng sản rất phù hợp với lòng dân, Đảng là cơ sở lý luận khoa học, có cương lĩnh tuyên ngôn rõ ràng, ông tình nguyện xin đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản, tích cực tuyên truyền vận động những người đảng viên Quốc dân đảng chân chính chuyển sang gia nhập Đảng Cộng sản.

Nhóm người của Quốc dân đảng bảo thủ ở Côn Đảo do Đội Lãng đứng đầu coi ông là kẻ phản bội, họp kín kết án tử hình ông, họ đã thoái hoá biến chất làm tay sai cho bọn cai tù và cho bọn chủ Pháp. Một hôm đang buổi ra ngoài, Đội Lãng rủ ông ra chỗ vắng bá vai bá cổ tỏ ra thân thiết lắm rồi bất thình lình dùng dao nhọn đâm vào cô họng ông. Máu chảy ra rất nhiều ông ngã vật xuống, các đồng chí đảng viên Cộng sản gần đó đã kịp thời đưa ông đi cấp cứu. Ông không chết, phải nằm điều trị mất 3 tháng. Thế là từ đó ông mang một vết sẹo dài ở cổ.

Năm 1936, phong trào bình dân ở Pháp giành thắng lợi, ở Đông Dương, phong trào đòi thả tù chính trị dấy lên mạnh mẽ. Thực dân Pháp buộc phải trả tự do cho ông cùng nhiều đồng chí khác trong đó có Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Cộng Hoà v.v…

Được trả tự do, từ Côn Đảo, ông về Hải  Phòng tạm ở nhà ông anh ruột là Tưởng Văn Thọ. Hàng tuần ông phải lên Sở mật thám trình diện  một lần, vì vẫn bị quản thúc. Nghỉ ở nhà được một hôm, hôm sau ông đi các cơ sở Đảng ở Hải Phòng để bắt liên lạc. Ông lên Hà Nội thăm ông Phạm Quang Chúc là bạn thân chủ cửa hàng Zêphia bán kem cốc ở hồ Hoàn Kiếm. Ông này là anh vợ của ông Nguyễn Kim Cương, Bộ trưởng của Chính phủ ta hồi thập niên 1960 và cũng là anh vợ của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông cũng đến thăm ông Nguyễn Sơn Bảo, em ruột ông Nguyễn Sơn Hà chủ hãng sơn Résistanco ở Hải Phòng. Mục đích của cuộc thăm viếng này là để bàn công tác. Vấn đề đặt ra là phải tìm một nơi yên ổn làm ăn sinh sống thì Đảng mới giao nhiệm vụ. Ông và một số đồng chí vào tạm lánh ở đồn điền trồng chẩu gần Nghĩa Trang cách thị xã Thanh Hoá 10km. Cơ sở này do bà Nguyễn Thị Thảo em gái ông Nguyễn Sơn Hà trông nom. Bà Thảo chăm sóc các chiến sỹ cách mạng rất tận tình, chu đáo cho nên mọi người trong đồn điền rất tôn trọng và quý mến bà. Bà là một người phụ nữ rất giản dị, ân cần trong đời thường và rất kiên cường trong đấu tranh cách mạng. Ông Mười Cúc và ông Bảo rất quý mến bà vì hiểu rõ cuộc đời chìm nổi đầy bão tố của bà. Do hiểu rõ nhau nên mối quan hệ giữa ông Bảo và bà Thảo ngày càng tình cảm hơn. Nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng chí đồng đội bạn bè sau đó hai người trở thành vợ chồng, ông Bảo trở thành người em rể của ông Nguyễn Sơn Hà, nhà công nghệ đang ăn nên làm ra ở đất cảng.

Vợ chồng ông Bảo đang làm ăn ổn định và phát đạt thì cơ sở này bị lộ. Được tin báo trước là bọn mật thám Thanh Hoá đến vây bắt, ông bà chạy lánh về Thái Bình, Hà Nội và Hải Phòng.

Ông Nguyễn Sơn Hà còn có một cử hàng sơn Resitanco ở 97 đường Charner Sài Gòn (nay là đường Nguyễn Huệ). Tổ chức Đảng Hải Phòng bàn với ông Hà để vợ chồng ông Bảo làm việc tại cửa hàng sơn Resitanco ở Sài Gòn.

Sau cuộc thất bại của khởi nghĩa Nam Kỳ, nhiều cơ sở Đảng bị tan vỡ, rất nhiều Đảng viên bị bắt và đày ra Côn Đảo. Ông Bảo nhận nhiệm vụ cùng một số đồng chí khác xây dựng lại các cơ sở Đảng ở thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn.

Cửa hàng ở 97 Charner bên ngoài là buôn bán, bên trong là nơi bí mật họp hành của các đồng chí lãnh đạo, là nơi nuôi dưỡng đảng viên, thường xuyên đến đây có đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Kim Cương, đồng chí Hoàng Quốc Việt từ ngoài Bắc vào đây công tác cũng ăn ở tại đây.

Năm 1945, sau khi cách mạng tháng 8 thành công trong cả nước, Đảng đang thiếu rất nhiều cán bộ lãnh đạo, Đảng chủ trương cử người ra Côn Đảo đón hàng ngàn tù nhân chính trị bị giam cầm ngoài đó để bổ sung cho đất nước trong thời kỳ đầu còn chứng nước. Xứ uỷ Nam Kỳ họp bàn cân nhắc rồi giao cho ông Bảo lo việc này.

Sau khi nhận nhiệm vụ, ông Bảo đem việc này bàn với ông Hà, được ông Hà đồng ý, ông đã tiến hành huy động và sửa chữa tàu thuyền chuẩn bị cho chuyến công tác đặc biệt này. Vào thời điểm này bà Bảo sinh con trai út, gia đình cũng gặp rất nhiều khó khăn, thương vợ con lắm, phải gác việc nhà sang một bên ông động viên vợ “thời cơ lớn của đất nước đã tới, tôi phải lo việc chung, mình phải cố gắng chịu đựng”.

Ông Bảo cầm thư của ông Trần Văn Giàu, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ đến gặp Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Sóc  Trăng bàn việc sửa chữa huy động tàu thuyền, kết quả được 30 ghe bầu cùng đoàn tàu Phú Quốc, ngày 16/09/1945 rời bến Đại Ngàn, Sóc Trăng ra Côn Đảo, vào 19 giờ ngày hôm đó cặp bến Cỏ ống, Côn Đảo. Ngày 17/9 tổ chức mít tinh ông Bảo tuyên bố “Từ giờ phút này Côn Đảo là mảnh đất hoàn toàn tự do độc lập. Tên tham tán Lê Văn Trà phải nộp ấn tín của ngục Côn Đảo cho cách mạng.

Đêm 23/9/1945 giặc Pháp núp sau quân Anh, ấn trở lại đánh chiếm Sài Gòn, thì đoàn tàu từ Côn Đảo trở về cũng cặp bến Đại Ngãi, Sóc Trăng cùng hàng ngàn chiến sỹ cách mạng ưu tú trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng và nhiều đồng chí khác sau này giữ các chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước.

Thế là việc chung to lớn ấy ông Bảo đã hoàn thành xuất sắc, bàn giao lại toàn bộ số người, vũ khí và tài sản cho ông Hoàng Quốc Việt và xứ uỷ Nam Kỳ.

Nhiều sách báo và nhiều người đã nói tới sự kiện này. Ông Phạm Hùng trưởng đoàn tù nhân ở Côn Đảo trở về đã hết lời ca ngợi chiến công của ông Bảo. Ông Vũ Huy Sứng, nguyên là thứ trưởng Bộ Dầu khí, người cùng hoạt động với ông Bảo nhớ lại thời kỳ sôi nổi ấy đã khẳng định: Chỉ có ông Bảo mới có khả năng tổ chức và nguồn tài chính dồi dào để chạy đua với giặc đón tù nhân từ Côn Đảo về rất kịp thời. Ông Nguyễn Cộng Hoà, nguyên Phó Chủ tịch Tổng công đoàn lao động Việt Nam đã ca ngợi công lao to lớn của ông Nguyễn Sơn Hà và vợ chồng ông Bảo, nếu như không kịp thời đưa các đồng chí ta trở về khi thực dân Pháp chiếm lại Côn Đảo chúng sẽ thủ tiêu các đồng chí của ta.

Khi giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn cả Nam Bộ lại bùng lên kháng chiến, ông Bảo lại lao vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Cuối tháng 10.1945 ông được cử làm Bí thư tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Châu Đốc đồng thời là Cố vấn cho Hội Khơ Me cứu quốc. Khi Pháp tái chiếm lại Long Xuyên, Cần Thơ, Châu Đốc, ông Hoàng Quốc Việt trở về miền Bắc, ông Bảo đã tình nguyện ở lại Nam Bộ tiếp tục chiến đấu. Đầu năm 1946, ông được cử làm Thanh tra chính trị miền Tây Nam Bộ, bọn thực dân Pháp rất hoảng sợ ông và đã treo giải thưởng  lớn cho ai chỉ điểm và bắt được ông.

Tháng 6/1946 một hôm ông cùng em ruột là Tưởng Tuấn Hải đi về Đồng Tháp Mười nơi các cơ quan của Xứ uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ở thì bị bắt, chúng giải hai anh em ông về Cần Thơ giao cho sở Mật thám lấy khẩu cung. Suốt một tuần lễ ông bị chúng đánh đập rất dã man, nhưng chúng không khai thác được gì, chúng lại đem hai anh em ông về giam tại khám lớn Sài Gòn giao cho Toà án binh xét xử. Tại đây ông bị đánh đập rất tàn nhẫn đến nỗi thổ huyết sống đi chết lại nhiều lần, nhưng khi tỉnh lại ông vẫn tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho mọi người trong trại giam một cách rất khôn khéo, sáng tạo mà địch không hề biết. Cho nên ông được mọi người kính nể, tôn trọng. Không lấy được chứng cớ gì để buộc tội. Toà án buộc phải tha bổng ông Hải, còn ông Bảo do bị ốm nặng và có sự can thiệp của một luật sư người Pháp do bà Bảo thuê nên được tạm tha về bệnh viện chợ Rẫy chữa trị.

Tháng 11.1946, Trung tướng Nguyễn Bình, tư lệnh trưởng quân khu VII trú đóng, để là bạn thân của ông Bảo biết tin này liền giao cho Ban công tác thành phố phối hợp với một số đồng chí hoạt động nội thành tổ chức đưa ông Bảo ra chiến khu Đông Thành, nơi bộ tư lệnh quân khu VII trực tiếp khám và chữa bệnh cho ông.

Trong thời gian nghỉ ngơi chữa bệnh, ông Bảo được ông Bình thường xuyên đến thăm,t hông báo tình hình thời sự và các tin chiến thắng của ta, đôi khi còn hỏi ý kiến để giải quyết một số việc trong nội bộ cơ quan Bộ Tư lệnh. Ông Bình tin và mến phục ông Bảo nên nghe những điều ông góp ý. Ông Lê Duẩn, bí thư Xứ uỷ mỗi khi đến làm việc với ông Bình đều ghé thăm ông Bảo.

Ai cũng mong ông khoẻ mạnh trở lại công tác, thì tháng 6/1947 quân Pháp huy động thuỷ lục không quân ồ ạt tiến công vào chiến khu Đông Thành. Ông Bảo tuy được các chiến sỹ đi theo bảo vệ nhưng do bị tù đày nhiều lần bị địch tra tấn dã man, mắc bệnh hiểm nghèo, sức khoẻ giảm sút, chạy trốn địch trong đầm lầy, cỏ lau cao quá đầu người, ông bị cảm lạnh đột ngột không kịp cứu chữa và đã qua đời.

Được tin, ai cũng đau xót và buồn rầu. Ông Bình đứng ra tổ chức tang lễ rất trọng thể tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng tại Cần Giờ, Đồng Tháp.  Ông thọ 40 tuổi. Tiểu sử của ông được đăng trên báo Xứ uỷ Nam Kỳ trong một khung đen hình chữ nhật.

Sau khi miền Nam giải phóng năm 1975, đồng chí bè bạn đã đưa hài cốt của ông về an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh. Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức truy điệu ông trọng thể, đồng chí Nguyễn Văn Linh khi đó là Tổng bí thư Đảng cùng anh em bè bạn đã tới vĩnh biệt ông, người đồng chí kiên cường bất khuất tài ba.

Đảng, Nhà nước ta luôn luôn ghi nhớ công lao của những người đã hy sinh thân mình cho đất nước, đã truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh.

Bà Thảo, vợ ông vào năm 1987 do bị cảm sốt và áp huyết đã qua đời thọ 80 tuổi. Hiện nay vợ chồgn ôgn Bảo còn lại ba người con gái:

1. Tưởng Thị An, sinh năm 1939, giáo viên trường Lê Thánh Tôn, Nhà Bè đã nghỉ hưu tại 24/14 ấp 6 xã Tân Quý Đông, Nhà Bè

2. Tưởng Thuý Bình, sinh năm 1941 buôn bán vặt, ngụ tại 114B chung cư ấn Quang.

3. Tưởng Thị Quý, sinh năm 1943, giáo viên trường Lê Thánh Tôn đã nghỉ việc, ngụ tại 378 hoặc 6/1 đường Cách mạng tháng Tám, thành phố Hồ Chí Minh.

(Thân thế và cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Bảo chủ yếu dựa vào hồi ký của Tưởng Huấn Hải viết về anh ruột mình và các tư liệu do vợ cùng các con ông Bảo cung cấp – Ngày 19/01/2001 Đại tá Tưởng Duy Hiếu).

Ngoài ông Tưởng Dân Bảo, tông họ Tưởng còn có người thứ hai cũng có một tiểu sử không kém lạ lùng: Lạ lùng ở chỗ “dường như nối tiếp tiểu sử của ông Tưởng Dân Bảo” có nhiệm vụ quan trọng ở ngoài hải đảo xa đất lềin: Côn Đảo. Có thể coi đây là sự kiện định mệnh của hai người họ Tưởng, tuy rằng chỉ là sự trùng hợp vì thời thế. Ông Tưởng Dân Bảo giải thoát hàng ngàn tù nhân vào năm 1945, còn người thứ hai ra Côn Đảo vào 30 năm sau, 1975 để hoàn thành nhiệm vụ hiếm có.

Tiểu sử “Thân thế và sự nghiệp của ông Tưởng Phi Đằng” do người cháu là Tưởng Phi Vượgn viết thuật như sau:

“Ông Tưởng Phi Đằng sinh năm 1930 là con thứ 5 trong một gia đình nông dân tại thôn Văn Nội, tổng Phú Lãm, phủ Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ, nay là xã Phú Lương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.

Cụ thân sinh là Tưởng Phi Tịch làm Trưởng bạ, mẹ là cụ bà Lê Thị Khang. Gia đình có 6 anh em, anh cả mất sớm còn 5 anh em (4 trai, 1 gái). Cả 5 anh em đều tham gia cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.

Thuở nhỏ ông học ở Hà Đông rồi ra Hà Nội. Ông tích cực hoạt động trong các tổ chức chống Pháp của học sinh, sinh viên Hà Nội. Đến năm 1945 thì tham gia trực tiếp hoạt động cách mạng chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội.

ở tuổi 16, sớm được giác ngộ cách mạng do các ông Lê Trung Đồng, Lê Ngọc Vân giới thiệu vào tổ Bắc Sơn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu với lòng yêu nước, hăng hái sôi nổi của tuổi trẻ. Sau cuộc tỏng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội, được tổ chức cử vào Công an cách mạng làm trinh sát chính trị thuộcphòng chính trị, Sở Liêm phong Bắc bộ do đồng chí Lê Hữu Qua phụ trách (ông Lê Hữu Qua là thiếu tướng công an), ông Lê Giản làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam.

Với nhiệt tình sôi động cách mạng, lòng hăng say của tuổi trẻ, ông tận tuỵ công tác đã góp phần bảo vệ, giữ vững chính quyền cách mạng còn non trẻ trong các năm 1945 – 1946.

Đêm 19/12/1946, Hà Nội nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, ông Tưởng Phi Đằng đã tình nguyện xin ở lại chiến đấu, xung vào Đoàn Cảm tử quân thủ đô Hà Nội với tinh thần sẵn sàng xả thân “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, liên tục trogn 60 ngày đêm dũng cảm chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội, đã tỏ ra xứng đáng là một chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô anh hùng.

Đêm ngày 17/2/1946, Trung đoàn Thủ đô được lệnh trên rút ra ngoài, lên căn cứ địa Việt Bắc để chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Ông Tưởng Phi Đằng vẫn ở trong đội ngũ Trung đoàn Thủ đô (hiện nya là Trung đoàn 102 cơ giới trong sư đoàn 308), là một trong những trung đoàn chủ công những trận đánh lớn của  Sư đoàn 308.

Cuộc đời quân ngũ chinh chiến của ông Đại tá Tưởng Phi Đằng gắn liền với hai cuộc chiến tranh cứu nước, trải qua 17 chiến dịch (11 chiến dịch trong chiến tranh chống Pháp, 4 chiến dịch trong chiến tranh chống Mỹ, 2 chiến dịch làm nhiệm vụ qts ở Lào (1953) và Campuchia (1979). Trong các chiến dịch này có 4 chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, bước ngoặt trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc mà ôngTwởng Phi Đằng vinh dự có mặt vào những thời điểm lịch sử quan trọng nhất, đó là chiến dịch giải phógn biên giới (1950), chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954), chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (1972( đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 của Đế quốc Mỹ; chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Ông cũng tham gia 2 chiến dịch lớn làm nghĩa vụ Quốc té là chiến dịch giải phóng Sầm Nưa (Lào, 1953) và chiến dịch giải phógn Nông Pênh (1972).

Đại tá Tưởng Phi Đằng trưởng thành từ người trinh sát của lực lượng công an từ sau cách mạng thágn 8/1945, trong chiến đấu được bổ nhiệm Trung đội trưởng (1947), Đại đội trưởng (1949), năm 1958 được phong Thượng uý (lần đầu tiên Quân đội phong quân hàm).  Năm 1965 được phong Đại uý bổ nhiệm làm phó tham mưu trưởng Trung đoàn không quân anh hùng 921 và 923. Đến năm 1973, được phong hàm thiếu tá và trong chiến dịch Hồ Chí Minh được bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng căn cứ sân bay Cần Thơ và Biên Hoà (sân bay quân sự lớn nhất miền Nam), đã thu hồi được hàng trăm máy bay các loại của Mỹ Nguỵ trong lúc tháo chạy đã bỏ lại rải rác khắp các sân bay ở khu 9, trực tiếp ra Côn Đảo để thu hồi máy bay trực thăng trên các hòn đảo, hồi phục sửa chữa các loại máy bay địch để lại, phục vụ cho các nhiệm vụ vận tải quân sự và chiến đấu. Ông Tưởng Phi Đằng đã mạnh dạn cho tuyển chọn hàng trăm thợ máy và hàng chục phi công của chính quyền cũ, hỗ trợ cho thợ máy và phi công ta nắm vững và làm chủ được các loại khí tài và máy bay của Mỹ lúc mới giải phóng miền Nam.

Từ tháng 3.1977 đến 1989 được cấp trên bổ nhiệm làm Phó tham mưu trưởng sư đoàn không quân 372 anh hùng, thăng cấp quân hàm lên Trung tá, rồi Đại tá…

Trong nghĩa vụ và trách nhiệm với gia đình, ông đã cùng với vợ là bà ĐInh Thị Kim Quế, là bác sĩ chủ nhiệm khoa, xuất thân cũng là một nữ bộ đội cụ Hồ, đã tập trung cố gắng chăm lo nuôi dạy các con học tập thành đạt, cả 3 con đều đỗ đại học, thành người công dân có trí thức để xây dựng Tổ quốc văn minh, hiện đại, hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ làm cha mẹ; với các cháu trong chi tộc. Ông tận tuỵ, chân thành chỉ bảo các điều hay lẽ phải hết lòng giúp đỡ các cháu với tấm lòng bao dung của một người ông cao niên trong chi tộc là thành viên ban cố vấn của Đại tộc. Mặc dù tuổi cao sức yếu ông vẫn tích cực hoạt động tham gia chỉ đạo Ban liên lạc hoàn thành tốt mọi công việc của dòng tộc.

Ông Đại tá Tưởng Phi Đằng là hậu duệ đời thứ 20 của đại tộc họ Tưởng đã cống hiến hết sức mình cho Tổ quốc và gia đình, làm vẻ vang thêm cho dòng tộc họ Tưởng về lòng yêu ns, yêu nhân dân, lòng tận trung với nước.

(Trích bài viết của Tưởng Phi Vượng, mùa xuân năm ất Dậu, 2005)


một kinh nghiệm về

viết gia phả, tộc phả


Hai tiểu sử vừa trình bày cho một ý tưởng: Tiểu sử cá nhân của các tiền nhân, tiền bối trong tộc họ còn là bài học có giá trị ở đời để cho mọi người thuộc các thế hệ hậu duệ về sau nhìn vào học hỏi.

Người ta thường viết tiểu sử, hồi ký của riêng mình mà quên và không chú ý tới của những người trên trước. Đây là một thiếu sót được chú ý bổ khuyết ngay. Người biên soạn sách này từng suy nghĩ từ bao lâu nay muốn gợi ý, đề nghị cùng các trưởng tộc. Sáng sớm hôm nay (13 tháng 11 năm 2005) vào lúc 7 giờ 30, từ Hà Nội PGS.TS Đại tá Phạm Hồng gọi điện vào thăm, trao đổi vài việc chung, ngẫu nhiên cũng đề cập đến việc viết tiểu sử tiền nhân, tiền bối trong gia tộc. Thật tâm đắc và cũng xác định ý tưởng từ lâu về việc này của người biên soạn đúng lối hợp thời. Tầm mức của việc viết tiểu sử ấy có tác dụng bổ sung tư liệu văn hoá, lịch sử giúp ích cho công tác tham khảo những vấn đề liên quan đến nước nhà; còn tránh được những hiểu lầm chưa biết trong quãng đại quần chúng, nhất là cho các thế hệ mai sau.

Đại tộc họ Tưởng đã làm được việc ấy, thật đáng được tâm đắc. Như ông Hoàng Tuấn Cư, nguyên Trơnửg ban Biên tập Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, đã nhận xét vào ngày 08/2/2004.

Tôi thấy họ (Tưởng) vừa có chút tự hào, vừa ý thức về dòng họ vừa suy nghĩ về trách nhiệm của mình; ở họ có những đức tính cần cù chịu khó, thông minh, năng động trong sản xuất, trong công tác, chăm chỉ trong học hành; với thiên nhiên gắn bó hoà đồng, với con người nhân hậu, vị tha, khiêm nhường. Tất cả! Tất cả! những đức tính ấy là phẩm chất của con người Việt Nam, của 54 dân tộc anh em, sống trên đất nước Việt Nam

Danh sách ban liên lạc họ tưởng


I. những khu vực có dòng họ tưởng Việt Nam từ 10 đời trở lên

1. Xã Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội có 4 chi họ.

2. Xã Hữu Hoà, Thanh Trì, Hà Nội có 2 chi họ.

3. Xã Huỳnh Cung, Thanh Trì, Hà Nội có 2 chi họ.

4. Xã Phú Lương, Thanh Oai, tỉnh Hà Tây có 6 chi họ.

5. Xã Tảo Dương Văn, huyện ứng Hoà, tỉnh Hà Tây có 2 chi họ.

6. Xã Hoàng Diệu, Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây có 2 chi họ.

7. Xã Quảng Tùng, Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình có 6 chi họ.

- Xã Kỳ Liên, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Làng Dương Liễu, Đồng Châu, Quảng THái huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Xã Bích Triều, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

8. Xã Đại Hiệp, Đại Thạch, huyện Đại Lộc, thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam có 4 chi họ.

II. Danh sách ban liên lạc.

1. Tưởng Văn Hoà - TRưởng họ – Trưởng ban liên lạc.

ĐT: 04. 9161922

2. Tưởng Thái Hưng – Chi 1 Tả Thanh Oai, Hà Nội.

ĐT: 04. 8230403

3. Tưởng Văn Tuất – Chi 2 Tả Thanh Oai, Hà Nội.

ĐT: 04. 8529925

4. Tưởng Phi Vượng – Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây.

Hiện ở tại 441 Đội Cấn – Hà Nội.

ĐT; 04.8347373

5. Tưởng Phi Tĩnh – Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây.

ĐT: 04. 8533563

6. Tưởng Phi Đằng – Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây.

ĐT: 04. 8530507

7. Tưởng Phi Phương – Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây.

ĐT: 04. 8233016

8. Tưởng Văn Chương – Hữu Hoà, Thanh TRì, Hà Nội.

ĐT: 04. 6884865

9. Tưởng Văn Hiền – Chương Mỹ, Hà Tây.

ĐT; 034.841348

10. Tưởng Duy Tri – ứng Hoà , Hà Tây.

ĐT: 034.884157

11. Tưởng Văn Quế – Huỳnh Cung, Thanh Trì, Hà Nội

ĐT: 04. 6885227

12. Tưởng Duy Bát – ứng Hoà, Hà Tây.

ĐT: 04. 6320689

13. Tưởng Minh Hiền – Nghệ An.

ĐT: 04. 7563232

14. Tưởng Đăng Phương – Nghệ An.

ĐT: 038.853591

15. Tưởng Phi Cường – Tuyên Quang.

ĐT: 027.823866

16. Tưởng Thanh - Đại Lộc, Quảng Nam

ĐT: 0510.865547

17. Tưởng Nguyên Tuất – Quảng Trạch, Quảng Bình

ĐT: 04.8370355

18. Tưởng Phú Đức – Kỳ Anh, Hà Tĩnh.

ĐT: 04.6645116

19. Tưởng Duy Căn – ứng Hoà, Hà Tây

ĐT: 034.883073

20. Tưởng Phi Bình – Văn Nội, Phú Lương, Hà Tây.

21. Tưởng Phi Mạnh – Văn Nội, Phú Lương, Hà Tây.

ĐT: 0904244086