Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
Làng khoa bảng Tả Thanh Oai (Tập 1/7)

LỜI GIỚI THIỆU:

“LÀNG KHOA BẢNG TẢ THANH OAI”

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, giáo dục và khoa cử Nho học giữ một vị trí vô cùng quan trọng, bởi không chỉ trao kiến thức về chữ Hán, về Nho giáo-hệ tư tưởng chính thống nhằm tạo ra sự ổn định và thống nhất xã hội, mà còn là phương thức chính để tuyển chọn quan lại, Nền giáo dục và khoa cử đó còn góp phần  quan trọng vào việc đào tạo nhân cách, rèn rũa tài năng cho biết bao con người, bao vị quan lại, trong đó, nhiều người về sau trở thành nhân tài, đem hết tài năng, trí tuệ phụng sự triều chính và đất nước; nhiều người trở thành niềm tự hào của gia đình, làng xóm, có người trở thành “biểu tượng” của một vùng quê rộng lớn. Nền giáo dục và khoa cử Nho học là cơ sở làm hình thành truyền thống nho học và khoa bảng ở nhiều làng quê trên nhiều miền đất nước.

Một trong những đặc điểm nổi bật trong truyền thống hiếu học và khoa bảng của nhiều vùng quê chúng ta là, những người đỗ đạt thường tập chung trong một số gia đình, dòng họ, nên gọi là các gia đình, dòng họ khoa bảng, từ đó làm hình thành các làng khoa bảng và cũng được thể hiện rõ nhất ở việc hình thành loại hình làng này. Sự xuất hiện của các làng khoa bảng là hệ quả của nền giáo dục nho học, của chế độ tuyền bổ quan lại thông qua con đường thi cử theo ngạch văn của nhà nước phong kiến Việt Nam. Ngoài những nét chung của làng Việt cổ truyền, các làng khoa bảng có những nét riêng. Việc xuất hiện trong một thời gian dài - nhiều khi liên tục những người đỗ đạt cao, thường tập trung ở các “gia đình khoa bảng” và “dòng họ khoa bảng” là đặc điểm nổi bật nhất, có ảnh hưởng đến nhiều mặt khác của làng, như cơ cấu tổ chức và quan hệ xã hội, sở hữu ruộng đất và quan hệ giai cấp, “đẳng cấp”, tục lệ, tín ngưỡng, các di tích lịch sử văn hoá và các sinh hoạt văn hoá v.v…Các làng khoa bảng cung cấp một số lượng lớn nhân tài cho đất nước, nhiều người có những đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, nêu tấm gương sáng về nhân cách của kẻ sĩ và ở phương diện nào đó, các làng khoa bảng cùng các danh nhân khoa bảng là đại diện xuất sắc cho văn hiến Việt Nam. Có thể coi các làng khoa bảng là những ngôi sao sáng về mặt giáo dục và văn hoá trên bầu trời làng xã Việt Nam thời phong kiến.

Nghiên cứu làng khoa bảng trước hết nhằm tìm hiểu nguyên nhân hình thành và những đặc điểm của loại hình làng này, góp phần lý giải nhiều vấn đề về lịch sử - văn hoá Việt Nam, nhất là ảnh hưởng của Nho giáo, của giáo dục khoa cử Nho học trong làng xã người Việt, tác động của các mặt trên đây đối với đời sống xã hội, văn hoá tinh thần của cộng đồng làng, tới nhiều mặt hoạt động của nhà nước phong kiến Việt Nam.

Nghiên cứu làng khoa bảng không chỉ nhằm khôi phục lại “vang bóng một thời của quá khứ”, nâng cao sự hiểu biết về truyền thống văn hiến của cha ông mà “đích ngắm” chính là để rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử trong việc phát huy truyền thống đối với sự nghiệp giáo dục, khuyến học, đào tạo nhân tài cho đất nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Vấn đề nghiên cứu càng trở nên bức thiết hơn khi việc xây dựng nền kinh tế trí thức - một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đòi hỏi đất nước nói chung và thủ đô nói riêng phải phát huy dân trí, nhanh chóng hình thành đội ngũ trí thức có thực tài, có phẩm chất đạo đức để đảm đương được các nhiệm vụ mà xã hội giao phó.

Thống kê từ các sách Đăng khoa lục, đối chiếu với thực tế cho thấy, dưới thời phong kiến, cả nước có 21 làng khoa bảng tiêu biểu, tức những làng có từ 10 người có học vị Tiến sĩ trở lên (thời Nguyễn có thêm học vị Phó bảng), trong đó địa bàn Hà Nội (Kinh đô của cả nước gắn với vùng “tứ trấn” phụ cận) hiện nay chiếm nhiều nhất: 6 làng, là các làng: Đông Ngạc (huyện Từ Liêm, 23 người), Tả Thanh Oai (huyện Thanh Trì, 12 người), Nguyệt Áng (huyện Thanh Trì, 11 người), các làng Hạ Yên Quyết (quận Cầu Giấy), Phú Thị (huyện Gia Lâm), Chi Nê (huyện Chương Mỹ) cùng có 10 người. Ngoài ra còn có 26 làng có từ 5-9 tiến sĩ. Các làng này còn có một số lượng lớn Hương cống (Cử nhân) và Sinh đồ (Tú tài)-nguồn bổ quan trọng cho bộ máy  Nhà nước phong kiến các cấp. Bên cạnh những nét chung , làng khoa bảng Thăng Long – Hà Nội có những đặc điểm riêng, do nằm sát kinh đô – trung tâm chính trị, văn hoá lớn nhất của đất nước trong hơn 7 thế kỷ. Phần lớn các danh nhân khoa bảng của các làng khoa bảng Thăng Long – Hà Nội là những người có đức, có tài, đem hết tài đức đóng góp xây dựng đất nước. Nhiều người có công lớn trong việc tạo lập và phát triển truyền thống lịch sử - văn hoá của Thăng Long – Hà Nội, tiêu biểu cho văn hiến Thăng Long trong gần 1000 năm kể từ khi Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Nhiều người nêu tấm gương sáng về nhân cách của kẻ sĩ Thăng Long. Có thể nói, văn hiến Thăng Long được kết tinh một phần ở các làng khoa bảng và các danh nhân khoa bảng.

Với những đặc điểm, giá trị độc đáo như vậy, các làng khoa bảng của Thăng Long – Hà Nội (cũng như của cả nước) cần được đi sâu nghiên cứu.

Hướng tới kỷ niệm Đại lễ Nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, được sự đồng ý của huyện uỷ  Thanh Trì, BCH Đảng bộ xã Tả Thanh Oai tổ chức biên soạn cuốn “Làng khoa bảng Tả Thanh Oai”, nhằm mục đích sau:

- Giới thiệu truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng, vị trí của làng khoa bảng Tả Thanh Oai trong hệ thống các làng khoa bảng của thăng Long – Hà Nội, của cả nước và đối với lịch sử dân tộc qua các thời kỳ, tìm ra điều kiện hình thành, những đặc điểm chung của loại hình làng này.

- Những đặc điểm của làng khoa bảng Tả Thanh Oai, những nhân tố tạo nên truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng.

- Đánh giá sự tiếp nối truyền thống trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị về việc phát huy truyền thống, góp phần vào việc đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, đào tạo nhân tài ở địa phương.

- Sách còn góp phần vào việc tìm hiểu làng xã ngoại thành, lịch sử thủ đô Hà Nội, văn hiến Thăng Long, hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nâng cao lòng tự hào về các giá trị lịch sử - văn hoá của quê hương cho cán bộ và nhân dân, nhất là cho thanh thiếu niên địa phương.

B. YÊU CẦU.

Sưu tầm tương đối đầy đủ các nguồn tư liệu ở địa phương, các cơ quan lưu trữ và cơ quan nghiên cứu ở địa phương.

Biên soạn trên cơ sở nguồn tư liệu thu thập được, phản ánh trung thực, khách quan truyền thống hiếu học và khoa bảng của người làng Tó, chú trọng nêu các mặt tích cực, các gương tốt.

Đối tượng sách là nhân dân và cán bộ địa phương nên biên soạn theo lối phổ thông, văn phong giản dị, dễ hiểu.

LÀNG KHOA BẢNG TẢ THANH OAI .

Chương I

TẢ THANH OAI, MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÀNG VEN ĐÔ.

I.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, TÊN LÀNG.

1. ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG.

Làng Tả Thanh Oai thuộc đồng bằng Bắc Bộ, cách Kinh Thành Thăng Long khoảng 10km, có dòng sông Nhuệ uốn quanh, đồng ruộng bằng phẳng. Xưa làng Tả Thanh Oai còn có tên Nôm là Kẻ Tó  hay Tó Tả ( để phân biệt với Tó Hữu) bên kia sông, nay thuộc xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội nằm ở phía Tây Nam của huyện. Phía Bắc giáp xã Tân Triều, Thanh Liệt, Tam Hiệp bởi đường Phan Trọng Tuệ. Phía Nam giáp làng Nhân Hoà (cùng xã Tả Thanh Oai). Phía Đông là đồng làng giáp xã Vĩnh Quỳnh, Đại Áng. Sông Nhuệ chảy từ Bắc qua Tây Nam xuống Đông Nam là ranh giới tự nhiên phía Tây với xã Hữu Hoà. Các xã đều thuộc huyện Thanh Trì.

Làng Tó có vị trí rất quan trọng là trung tâm giao lưu, đi lại quan hệ sản xuất buôn bán, làm ăn với nhiều địa phương khác. Nên từ xa xưa đến nay, nhân dân trong làng và ở nhiều nơi khác vẫn thường gọi: Làng Tó, Tó Hữu, Quang Tó, ngã tư Tó, cầu Tó, làng còn có câu ca dao:

Xoa xoa xuýt xuýt

bán quýt chợ Đông,

bán Hồng chợ Tó,

bán vó cho Vua,

bán cua cho làng

mặt trời vàng vàng

cho quýt ta ngọt

cho quýt ta chua.

Cuối thời Lê đầu thời Nguyễn, Làng (cũng là xã) Tả Thanh Oai thuộc tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên (sau đổi thành Ứng Hoà), trấn Sơn Nam Thượng (từ năm 1831 là tỉnh Hà Nội, năm 1888 thuộc tỉnh Cầu Đơ, đến năm 1904 đổi thành tỉnh Hà Đông). Năm 1979, xã Tả Thanh Oai được cắt khỏi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây sát nhập vào huyện thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Đường làng nay có tên là đường Tả Thanh Oai, nối với đường Phan Trọng Tuệ (đường 70) ở đoạn (cầu Tó) cách trung tâm quận Hà Đông 4km và cách thị trấn Văn Điển 4km, và từ cầu Tó có đường dọc theo sông Tô Lịch đi qua làng Thanh Liệt cắt đường vành đai 3 tới Ngã Tư Sở nội thành Hà Nội.

Xưa kia, theo cuốn “Lư sử điển yếu điều lệ” thì làng còn có  con đường Thiên lý Tây đạo (từ huyện Chương Đức, nay là huyện Chương Mỹ, Hà Nội) chạy qua xứ đồng Lác Kỵ, vào khu nghĩa địa làng Tả Thanh Oai, đến xứ Cây Đa xuyên thẳng vào làng, ven theo khu Minh Ngự Lâu, tới đầu khu chợ Tổ Thị (chợ Tó) đầu làng hiện nay;  Hai bên đường xưa đều có dân cư. Đây là con đường đất “Ai Lao tiến tượng” (người Ai Lao đưa voi vào kinh đô Thăng Long tiến cống Vua nước Đại Việt) khi xưa.

Đường làng Tả Thanh Oai, trước năm 1945 đẹp tuyệt vời uốn lượn quanh co bên dòng sông Nhuệ dài khoảng 2000m. Đoạn thứ nhất từ đầu làng (đình Tổ Thị) đến giữa làng cạnh đình Hoa Xá và đoạn phụ từ đình Hoa Xá đến Minh Ngự Lâu, lát gạch nghiêng hai bên kè đá tảng, rộng khoảng 2m40. Đoạn thứ hai từ đình Hoa Xá đến cuối làng lát gạch nghiêng rộng khoảng 1m40. Các đường xóm lát gạch nghiêng rộng khoảng 1m20.

Làng khoa bảng Tả Thanh Oai cũng không thể thiếu được các đình, chùa, miếu, đền, nhà thờ các họ lớn làm tăng thêm cảnh đẹp của con đường giao thông làng xóm.

Khi giặc Pháp chiếm đóng làng, đưa xe ôtô vào làm hỏng nhiều đoạn đường. Đến năm 1994, đường làng được trải nhựa rộng trung bình 6m cho đến nay.

Ngoài đường bộ, Tả Thanh Oai còn  có sông Nhuệ bắt nguồn từ sông Hồng qua cống Liên Mạc (Từ Liêm) chảy qua Hà Đông, dọc làng Tả Thanh Oai xuôi xuống tỉnh Nam Hà. Con sông Tô Lịch bắt nguồn từ Hồ Tây chảy trong nội đô xuôi xuống hồ Yên Sở, ngang qua làng Quang (Thanh Liệt) có nhánh nối với sông Nhuệ ở đầu làng Tả Thanh Oai. Xưa kia, hai dòng sông này là đường giao thông thuỷ quan trọng đối với việc đi lại, sản xuất, buôn bán của làng với bên ngoài. Ven sông Nhuệ - đoạn ở đầu làng có chợ Tó, có cây đa cổ thụ ở ngã ba đi qua Tam Quan đình Tổ Thị là tới cầu Tó bắc qua sông Nhuệ sang làng Hữu Hoà. Trước năm 1945, ở Đình Tổ Thị có cột cờ Đại là trung tâm ba ngả của chợ Tó, một ngả đi thẳng đến cầu Tó Hữu, một ngả đi ra ngã tư Tó, còn một ngả đi xuôi vào làng Tó. Chợ họp phần lớn là ngoài trời từ lúc đầu giờ chiều cho đến khi mặt trời khuất sau dẫy cây của làng Hữu. Chợ họp cả ba ngả đường, mỗi ngả có bán mặt hàng khác nhau, chợ bán nhiều chủng loại, có cửa hàng làm vàng mã, tạp hoá, tạp phẩm, chữa xe đạp, cắt tóc, ăn uống, gạo tẻ nếp các loại, cua cá chai ốc các loại, quà bánh các loại và một số hàng hoá khác, chợ mua bán các mặt hàng. Người làng Tó chiếm già nửa, còn lại là người ở làng khác đến. Chợ làng quê nhưng rất đông vui, nhộn nhịp và đều thể hiện rất trân tình.

Ở hai đầu cầu chợ Tó có bến đò ngang, đò dọc cũng rất nhộn nhịp. Đối với đò dọc chở hàng hoá ngược xuôi, cập bến đầu cầu Tó bốc hàng trở bằng xe ngựa, xe bò về Hà Nội, bán buôn cho nhiều cửa hàng. Đến đầu năm 1947 quân Pháp tràn về, nhân dân làng Tó thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống” đã đi tản cư hết. Địch chiếm đất đình, chùa và toàn thể nhà ở của nhân dân chợ Tó, chợ không thể họp được nữa.

Cho đến khoảng năm 1975 thống nhất đất nước, mọi người lại nhóm họp chợ ở chợ Tó, ven ba ngả đường nhân dân trong làng Tó, Hữu Hoà và một số nơi khác dần dần xây nhà trần, nhà tầng nhiều vẻ kiến trúc khác nhau bán nhiều loại hàng đáp ứng phần lớn nhu cầu thiết yếu của nhân dân, bên cạnh đó còn có trường học Ngô Thì Nhậm, trường trung cấp kinh tế, đơn vị X40, xe cộ, người đi bộ rầm rập suốt ngày đêm như một thị trấn, làm cho bộ mặt làng xóm thay đổi không ngừng.

Giữa làng -trước cửa đình Hoa Xá là một bến đò ngang (Tó – Hữu Hoà). Cho đến khoảng 1949 nhân dân làng Tó đi tản cư trở về củng cố phát triển quê hương. Chợ đình Hoa Xá cũng bắt đầu hình thành từ đó đầu tiên là một số người trong làng và một số người làng khác đến họp cũng có nhiều mặt hàng thường là hàng tự sản tự tiêu, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, chợ họp ngoài trời từ sáng đến chiều tà.

Bên dưới cột cờ Đại của đình Hoa Xá có một giếng nhân dân tự đào để sử dụng có một thời kỳ cũng có bến đò ngang. Vào khoảng cuối năm 1945 cụ Huỳnh Thúc Kháng quyền Chủ tịch nước đã nghỉ chân tại Đại Thanh và đi qua bến đò ngang này, để sang thăm xã Hữu Hoà (do cụ Hai Viên chở đò) sau đó bến đò ngang được chuyển lên phía trên cách đình khoảng 400m.

Đến năm 1975, đất nước cũng như làng, xã ngày một phát triển chợ đình Hoa Xá thôi họp cho đến nay không còn nữa.

Nhưng cũng tại nơi đây, sau năm 1954 đến nay những ngày diễn ra lễ hội tổ chức mít tinh kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc của địa phương, Đảng chính quyền giao cho Hội người cao tuổi, chi đoàn thanh niên, phụ nữ, dân quân tổ chức nhiều trò chơi như múa Sư Tử, đánh cờ tướng, chạy vũ trang, hái hoa dân chủ, thi xe đạp chậm tối đích, xe đạp đốt pháo treo, bịt mắt đập niêu, chạy thi, bơi thi bắt vịt thả dòng sông Nhuệ, đánh bóng truyền, đặc biệt các tổ văn nghệ trong làng và các tổ văn nghệ làng khác tổ chức diễn kịch, ca múa hát với phương trâm là cây nhà lá vườn, tự biên tự diễn, tiếng hát át tiếng bom, được nhân dân trong làng và các làng khác đến tham dự rất đông vui, đều để lại ấn tượng tốt đẹp.

Lịch sử: Con người xuất hiện ở khu vực Hà Nội từ cách đây 2 vạn năm, giai đoạn của nền văn hoá Sơn Vi (thời đại đồ đá mới), rồi trải qua thời đại đồ đồng, thời đại đồ sắt (Những cư dân Hà Nội thời kỳ đó sinh sống nhờ trồng trọt, chăn nuôi và chài lưới. Giai đoạn tiền sử đồ sắt này tương ứng với thời kỳ của các Vua Hùng trong truyền thuyết). Trong nghìn năm Bắc thuộc, ở Tả Thanh Oai vào đời nhà Đường –Cao Biền có ngắm địa thế của làng và khẳng định, thế đất của làng tạo cho làng thành đạt về mặt khoa bảng và quan tước “Tả Thanh Oai, đất do sông Tô dẫn mạch, miếu do sông Nhuệ bồi cơ, danh khoa đăng giáp, thế phiệt thi thư…”. Theo (Lư Sử Điển Yếu Điều Lệ của làng: Mục địa lý này cho biết như trên). Đến đời Tiền Lê với sự tích Vua Lê Hoàn với bà Chúa Hến, dân làng đã có hàng ngàn năm trước, nhưng chỉ từ khi Vua Lê Hoàn (980-1005) phong Bà Chúa Hến hiệu Đô Hồ Phi Nhân, làng mới ghi được lịch sử. Trải qua hơn 200 năm đất nước thanh bình dưới thời nhà Lý, thời đó dân cư đông đúc, đến khi quân Nguyên xâm lược lần thứ ba 1288 thua chạy, các Họ trong làng đều không thấy ghi trong gia phả. Phải chăng là do thời kỳ đó trong dân chưa viết gia phả, hay là giặc Nguyên tàn bạo đã huỷ diệt dân làng, cùng với sách lược đánh giặc “vườn không nhà trống” của Hưng Đạo Đại Vương, dân làng đi chống giặc. Nên cả một thời gian dài làng Tả Thanh Oai không có tư liệu lịch sử của các Họ. Từ Thành Hoàng Làng thờ Vua Lê Đại Hành và Bà Chúa Hến đến các Họ lớn trong làng có bề dầy lịch sử trên 20 đời.

Xưa kia làng Tó  gồm hai ấp sau là hai làng là: Tổ Thị và Hoa Xá . Theo cuốn Lư sử điển yếu điều lệ,  vào đời Vua Lê Hiến Tông niên hiệu cảnh Thống (1498-1504). Làng chia các giáp là: bốn giáp (gốc) ăn theo đình Tổ Thị (cũng là làng) là: Đông Thượng, Tây Thượng, Đông Trung, Tây Trung; tám giáp (gốc) ăn theo đình Hoa Xá (cũng là làng) là Đức Lâm (Đông, Tây), Hoa Xá (Đông, Tây). Phúc Lâm (Đông, Tây) và Đường Khôi (Đông, Tây); Mỗi làng có quan viên kỳ mục riêng, tổ chức tế lễ riêng, ngôi thứ riêng. Trước năm Cảnh Hưng thì hai làng nhập làm một, vì khoảng năm 1740 Lư sử của làng mới ghi các quy định cầu cúng ở đình Tổ Thị cũng gồm các quy định về các lễ tiết tương tự như ở đình Hoa Xá. Sinh ra hiện tượng, hai gia đình ở cạnh nhau nhưng lại “ăn” ngôi thứ, chịu sai dịch ở hai Đình khác nhau, nhưng hai khối cư dân vẫn nằm trong một khối thống nhất (về ruộng đất và hành chính) của làng (cũng là xã) Tả Thanh Oai.

Trong truyền thuyết của làng các cụ cao niên từ trước đến nay thường kể lại cho mọi người nghe làng xây đình Hoa Xá long mạch liên quan đến dòng nước sông Tô Lịch, đến cây Ba Đông Đống, Tam Thai, sau đình có giếng nước. Trước cửa đình theo dòng sông Nhuệ gần sát Miếu Ông có vườn Bát Đẩu biểu tượng địa linh nhân kiệt như Lư sử viết: “Tả Thanh Oai, đất do sông Tô dẫn mạch, miếu do sông Nhuệ bồi cơ, danh khoa đăng giáp, thế phiệt thi thư…”.

Theo các bậc cao niên trong làng, thủa xa xưa ban đầu, dân làng quần tụ tại khu vực chợ Tó hiện nay, và đình Hoa Xá-Minh Ngự Lâu từ đó phát triển giáp lại gần nhau và xuống chùa Bùi (cuối làng), với một vùng dân cư, đồng ruộng trải dài chừng hơn 2km. Trong các họ góp công xây dựng làng gồm họ: Ngô, Tưởng, Nguyễn, Lưu, Nghiêm, Phạm, Trần v.v. Thì ở làng có một họ Tưởng, hai họ Ngô là (Ngô Vi và Ngô Thời), ba họ Nguyễn là (Nguyễn khai khoa, Nguyễn Thế, Nguyễn Xuân) là những họ có nhiều đời hơn, trong đó họ Ngô Vi có phả hệ nhiều đời nhất ở làng trước nhất, họ Nguyễn Khai Khoa có cụ Nguyễn Chỉ thi đỗ Tiến sỹ (Đại khoa) đầu tiên ở làng, họ Tưởng có cụ Tưởng Tu Đạo được phong tước Quận công đầu tiên ở làng. Thời xưa cả làng có 12 Tiến sĩ thì họ Ngô chiếm 8 cụ ( 6 cụ họ Ngô Thời, 2 cụ họ Ngô Vi) còn họ Nguyễn có 4 cụ (3 cụ họ Nguyễn Khai khoa, 1 cụ họ Nguyễn Thế).

Ruộng nông nghiệp của làng trước đây có 930 mẫu gồm: diện tích 221 mẫu ruộng công và 709 mẫu ruộng tư, sau cải cách ruộng đất đã nhập vào Hợp tác xã nông nghiệp.

Dân cư: Nguồn gốc dân làng hiện chưa xáo trộn mấy, ngoài một số dòng họ có phả hệ lâu đời từ những thế kỷ XIII, XIV đến nay có 28 dòng họ gốc quan hệ thông gia mật thiết từ trước năm 1945 còn có hơn 20 họ mới đã đến lập nghiệp, nhưng cũng có những trường hợp, gia đình có người đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan ở tỉnh khác và đem theo gia quyến cùng đi. Hiện nay, làng cũng đang là điểm đến của nhiều người dân tứ xứ.

Dân số, đầu thế kỷ XX làng Tả Thanh Oai có 1857 người (trong đó dân ngoại tịch là 258 người). Năm 1921, làng có 288 hộ, 1505 khẩu. Năm 1925, có 295 hộ, 1700 khẩu (Xem Ngô Vi Liễn. Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, Nxb. Văn hoá- thông tin, Hà Nội.1999). Nay năm 2010 làng có 1650 hộ, 5500 khẩu, dân số tăng gấp 3 lần năm 1925 mà ruộng đất không tăng. Mật độ dân cư hiện nay khoảng 1833 người/ 1km2, làng nằm dài theo sông Nhuệ khoảng 3 km, chỗ rộng nhất chưa đầy 1 km. Dân làng đều là người Kinh, xưa theo đạo Phật (Làng chỉ có các chùa, không có nhà thờ của các đạo khác).

Công trình tôn giáo của làng có vào khoảng thời nhà Lý: đình Tổ Thị, chùa Chợ (Tổ Thị), văn chỉ bị mất từ năm 1947 do giặc Pháp đốt, phá sau không tu sửa lại được. Nay còn đình Hoa Xá- Minh Ngự Lâu, chùa Phe, chùa Bùi, chùa Thắm, Miếu Ông, Đền Chợ.

Thuỷ Tổ của các dòng họ bắt đầu xuất hiện vào thời nhà Trần: họ Ngô Vi, họ Tưởng, họ Ngô  Thì, họ Lưu; thời Lê Sơ: họ Nguyễn khai khoa, Nguyễn Thế, Nguyễn Xuân .v.v.

Ngày nay nhiều gia đình đến định cư có thêm các họ mới như: Trương Trung Quỳnh; Vương Trung Long; Trần Đăng Hái; Phan Thanh Ngọ; Bạch Trung Hưng; Giáp Văn Sự; Đặng Văn Trường. .v.v…

Quan chức: bắt đầu có Tả lang trung Hình bộ là Phạm Canh; Thiêm phán Tưởng Tư đi sứ nước Minh cho nhà Hồ.

Võ tướng của làng bắt đầu có vào thời nhà Lê Sơ: là Chuyển vận Phó sứ  Giao Thuỷ Tưởng Thừa Hy.

Tiến sĩ của làng bắt đầu đỗ vào thời nhà Lê Sơ: cụ Nguyễn Chỉ, cụ Nguyễn Khánh Dung.

Quận Công của làng có vào thời nhà Mạc và Lê Trung Hưng: cụ Tưởng Tu Đạo, cụ Tưởng Bá Linh, cụ Tưởng Phúc Ngộ, cụ Lưu Đức Trọng.

Vừa Quận công vừa Tiến sĩ: cụ Ngô Đình Thạc, cụ Ngô Đình Chất.

Vừa là văn quan vừa là võ tướng: cụ Tiến sĩ Ngô Vi Thực, cụ Tiến sĩ Ngô Thì Sĩ.

Tiến sĩ đỗ nhiều nhất vào thời Lê Trung Hưng có thêm các cụ: cụ Ngô Tuấn Dị, cụ Ngô Vi Nho, cụ Nguyễn Tông Trình, cụ Nguyễn Nha, cụ Ngô Thì Nhậm.

Tiến sĩ thời nhà Nguyễn: vào tận kinh đô Huế thi là cụ Ngô Điền.

Hầu hết bia đá của các họ được xây dựng vào thời kỳ nhà Nguyễn: Bia họ Ngô Thì (1794), Đàn Bia họ Tưởng năm (1820), Bia họ Nguyễn Xuân (1917), Bia họ Nguyễn Thế (1923),.v.v…

2 -THUỶ TỔ CÁC TỘC HỌ Ở TẢ THANH OAI.

STT

Danh tính Thủy tổ, Triệu tố

Khoảng năm đến ở TTO

Số đời

Ngày tế, giỗ tổ

1

Thuỷ tổ họ Ngô Vi.

Bồ-Đốc-Công, Thuỵ Tu-Đức.

1290

25 đời

9 tháng giêng

2

Thuỷ tổ họ Tưởng.

Tưởng Đức Tiên.

1341

23 đời

Chủ nhật sau Rằm tháng Giêng

3

Thuỷ tổ họ Phạm:

Phạm Đãng, tự Văn Đường.

1389

21 đời

15 tháng 9 (âm lịch)

4

Triệu Tổ họ Ngô Thì.

Hiệu: Phúc Cơ

1408

21 đời

17 tháng Giêng

5

Thuỷ tổ họ Lưu.

Lưu Kiến, hiệu phúc tâm.

1408

21 đời

11 tháng giêng

6

Thuỷ tổ họ Nguyễn khai khoa.

Nguyễn Hồ, thuỵ Dưỡng Hạo

1440

23 đời

14 tháng Giêng

7

Triệu tổ họ Nguyễn Xuân

Hiệu: Phúc Tác

1500

22 đời

21 tháng 10 (Âm lịch)

8

Thuỷ tổ họ Đào.

Đào Mẫn Huệ, hiệu Trực Lượng

1506

17 đời

Ngày giỗ:  ??

9

Thủy Tổ họ Nguyễn Thế.

Nguyễn Cao Niên

1523

18 đời

9 tháng Giêng

10

Triệu Tổ họ Trần.

Trần công hiệu Phúc Hậu

1524

19 đời

Ngày giỗ:  ??

11

Thuỷ tổ họ Nguyễn Hữu

tự Thanh Khê, hiệu Phúc Quảng.

1581

16 đời

21 tháng 5(âm lịch)

12

Thuỷ tổ họ Nghiêm.

Nghiêm Phúc Quảng.

1583

11 đời

20 tháng 10 (âm lịch)

13

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Duy.

Huý: Lư, hiệu Phúc Trực.

1698

11 đời

24 tháng Giêng

14

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Tá.

Nguyễn Tá Trực mỹ công.

1701

11 đời

Ngày giỗ:   ??

15

Triệu tổ họ Nguyễn Đào.

Nguyễn Đào Từ Phúc.

1714

12 đời

14 tháng 2 (Âm lịch)

16

Thuỷ Tổ họ Triệu:

Triệu Phúc Cố.

1720

11 đời

18 tháng Giêng

17

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Đức.

Nguyễn Đức Thành, hiệu Lương Bật.

1740

9 đời

10 tháng Giêng

18

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Trần.

Nguyễn Đình Cố hiệu Phúc Lãnh.

1760

11 đời

14 tháng 3 (Âm lịch)

19

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Văn.

Nguyễn Đình Phiệt

1788

Chi trưởng 6 đời và chi thứ 9 đời

16 tháng Giêng

20

Thuỷ Tổ họ Hoàng.

Hoàng Văn Tập.

1848

6 đời

26 tháng 2 (Âm lịch)

21

Thuỷ Tổ họ Bùi.

Bùi Văn Nhạ.

1850

6 đời

20 tháng 3 (Âm lịch)

22

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Huy

Nguyễn Huy Thông.

1850

5 đời

30 tháng 12 (Âm lịch)

25

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Thanh.

Nguyễn Thanh Quang.

1886

7 đời

18 tháng 05 (Âm lịch)

26

Họ Nguyễn Như.

Thuỷ Tổ: ??

1900

Thất lạc gia phả

12 tháng 6 (Âm lịch)

27

Họ Vũ.

Thuỷ Tổ:  ??

1901

Gia phả bị cháy hết

Ngày giỗ: ??

28

Họ Nguyễn Quang.

Thuỷ Tổ:  ??

1902

ở làng hơn 100 năm

20 tháng Giêng

3 – CÁC QUẬN CÔNG NGƯỜI LÀNG TẢ THANH OAI:

1 -Năm 1518 Cụ Tưởng Tu Đạo (chi trưởng, đời thứ 7), sinh năm Mậu Ngọ 1498 mất năm 1573, hàm: Quang Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân, Phụng Thánh -Thiên Định Nhị Vệ Đô Quản, lĩnh tước Phúc Toàn Quận Công.

2-Năm 1521  Cụ Tưởng Bá Linh (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 7), hiệu Đoan Tĩnh Công sinh năm Tân Dậu 1501 ….Hàm: “Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tư lễ giám thủ thái giám tri quản ích điện, tước Đoan Nghĩa quận công”.

3 -Năm 1546 Cụ Tưởng Phúc Ngộ (Tổ thúc chi trưởng, đời thứ 8), sinh năm Bính Tuất 1526 ….., chức: Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Bảo Trung -Thần Ưng Nhị Vệ Đô Quản, lĩnh Văn Phong Quận Công.

4 –Năm 1565 (Tổ khảo đời thứ 6 họ Lưu) vinh phong: chung hưng yết tiết  tuyên lực công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu thái thường tự tự khanh khiêm lễ Hầu, phong tặng lại bộ tả thị lang Kiêm Quận Công, gia phong công bộ thượng thư thái bảo, chung phong thái phó Lưu tướng công tự Phúc Diễn thuỵ Đức Trọng tiên sinh.

5 -Năm 1700 cụ Ngô Đình Thạc (1678- 1740) Tiến sĩ, đỗ ĐTGĐTSXT khoa Canh Thìn, niên hiệu Chính Hoà, đời Vua Lê Hy Tông. Năm 1732 làm phó sứ sang nhà Thanh, về làm Binh bộ Thượng thư, Nhập thị Kinh Diên, tước Huy Quận công. 1739 Tham tụng  Hộ bộ Thượng thư, 1740 làm Trấn thủ Lạng Sơn chết được truy tặng hàm Thái bảo.

6 -Năm 1721 cụ Ngô Đình Chất (1686-?) Tiến sĩ, đỗ ĐTGĐTSXT khoa Tân Sửu, niên hiệu Thái Bảo, đời Vua Lê Dụ Tông, làm Đô Ngự Sử, Bồi tụng kiêm Tán lý trung quản, Binh bộ Thượng thư, tước Nhuệ Xuyên hầu. Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí viết: “Ông công danh tuy muộn, nhưng lại hơn người anh (tức Tiến sĩ Ngô Đình Thạc); người đời đều khen là vinh hiển”. Khi mất, ông được tặng Thái bảo, tước Phương Quận công.

4 – CÁC NGÔI THỨ TRONG VIỆC LÀNG:

Sự phân chia thứ bậc dân cư ở Tả Thanh Oai có sự kết hợp chặt chẽ giữa bằng sắc, chức tước và tuổi tác, trong đó. Tiêu chuẩn chức tước, bằng sắc chiếm ưu thế. Những người làm quan to trong triều (triều quan) có ảnh hưởng lớn trong đời sống chính trị- xã hội của làng và có một vị trí quan trọng trong hội đồng quản lý làng. Các việc lớn trong làng đều phải có sự bàn bạc và thoả thuận của các vị triều quan này. Trong các văn bản hành chính của làng, các vị triều quan đứng tên đầu tiên. Tuy nhiên, làng vẫn có những tôn trọng tới  người có tuổi. theo quy định năm Thiệu Trị thứ hai (1842) thì chỗ ngồi ở đình xếp theo thứ bậc như sau:

-Chức sắc hàm ngũ, lục, thất phẩm cùng Phó bảng, Cử nhân. Giám sinh ứng chiếu ngồi theo chức vị triều quan. Người đã từng là chức sắc dự vào phẩm trật nào thì ngồi vào chỗ phẩm trật hiện tại.

-Viên lão 90 tuổi trở lên ngồi ở hàng triều quan, 80 tuổi trở lên ngồi ở hàng quan ngũ phẩm, 70 tuổi trở lên ngồi ở hàng lục phẩm, 60 tuổi trở lên ngồi ở hàng quan thất phẩm (viên lão và người có chức sắc).

-Chức sắc hàm bát phẩm, cửu phẩm và tú tài ngồi cùng hàng viên lão trên 50 tuổi.

-Nha môn các tỉnh và phủ huyện, chiểu theo tuổi ngồi cùng các tú tài.

Phe tư văn ở Tả Thanh Oai có ảnh hưởng rất lớn. Hầu hết các thành viên đều nằm trong Hội đồng Kỳ mục có quyết định mọi công việc của cộng đồng.

5 - HỘI TƯ VĂN CỦA LÀNG:

Lệ hàng tư văn của làng được thành lập từ đầu những năm niên hiệu Cảnh Hưng 1740. Những cụ nào vào được hàng tư văn, sau khi mất gia phả của người đã khuất có ghi thêm từ:“văn hội”. Đó là truyền thống văn hoá của làng khoa bảng Tả Thanh Oai và thể hiện ở lệ khảo văn. Theo “Lư sử điển yếu điều lệ”, lệ cũ của làng, người nào có khoa trường mới được dự hàng tư văn. Hễ gặp kỳ thi Hương thì sau tiết Thượng điền mùa thu một ngày, xã trưởng đến trình triều quan, quan viên hội họp ở đình nghe sĩ nhân trong xã, ai hiểu biết văn học, đều tề tựu ứng khảo. Đề thi gồm: một đề về thơ, ba đề về phú, một đề về tứ lục, một đề về đoạn. Đến ngày thi, khám thủ sai tuần phiên đến kiểm tra giám sát. Ai thông văn lý, dự đúng cách sẽ cho làm lễ sinh như cũ, cùng được dự vào hàng viên mục tư văn. Ai là lãnh binh bản xã cũng nhận để khuyến khích việc học. Người nào lúc khảo thi có hành vi gian lận bị phát giác sẽ bị phạt một con trâu, định giá cổ tiền là 10 quan, thưởng cho người phát giác một nửa, còn một nửa dùng chi phí chung cho hội họp bản xã. Nếu  khán thủ tuần phu không có khả năng giám sát kỹ càng để cho người ngoài phát giác ra thì phạt tội như trên. Người dự thi mà trúng tuyển phải sắm cỗ dâng hai miếu. Lễ xong vào nhập văn hội như lệ khoa trường. Hễ có ai thi đỗ đã làm lễ sinh, nhưng lại bỏ nghiệp Nho để theo nghề khác, theo hạng người khác thì bị gọi ra đình phúc khảo. Lệ khảo văn là bước tập dượt đầu tiên cho những người đi thi, giúp cho người đi học sớm tích luỹ được kinh nghiệm làm bài để bước vào những kỳ thi khó hơn.

6 - NGÔ GIA VĂN PHÁI

Làng Tả Thanh Oai có truyền thống văn học rất rõ nét, thể hiện trước hết ở dòng Ngô Gia văn phái (Môn phái văn học nhà họ Ngô). Tác giả đầu tiên của Ngô gia văn phái là Ngô Thì Ức, hiệu Tuyết Trai, thân sinh Ngô Thì Sĩ; tác giả cuối cùng là Ngô Thì Giai; tổng cộng có mười lăm tác giả, trong đó nổi lên những tài năng lớn như Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Hương, Ngô Thì Du, Ngô Thì Chiến, Ngô Thì Điển. Ngô Thì Điển là con trưởng của Ngô Thì Nhậm, đã có sáng kiến biên soạn, tập hợp toàn bộ các tác phẩm của tác giả trong họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai. Ông bàn với người chú là Ngô Thì Trí đặt tên cho hệ thống các tác giả của các tác phẩm đó là Ngô gia văn phái. Đầu tiên, là tất cả các tác phẩm của từ Ngô Thì Ức đến Ngô Thì Điển. Về sau, được bổ xung thêm các tác phẩm của các tác giả sau Ngô Thì Điển. Tổng số các tác phẩm của Ngô gia văn phái lên đến 36 bộ sách (con số chính thức được lưu giữ tại thư viện thông tin khoa học xã hội). Hệ thống các tác phẩm của Ngô gia văn phái đã phản ánh được nhiều mặt đời sống xã hội, chính trị, văn hoá của nước ta từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX.

Với bộ tiểu thuyết lịch sử hai tập rất có giá trị “Hoàng Lê nhất thống chí” được cả nước biết đến. Đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi, gồm 17 hồi, do một số tác giả họ Ngô kế tục nhau viết, trong những thời điểm khác nhau. Nội dung của tác phẩm chủ yếu phản ánh cuộc tranh ngôi đoạn quyền dữ dội giữa các tập đoàn phong kiến Lê- Trịnh, và cuộc nổi dậy đầy khi thế của phong trào nông dân Tây Sơn, thời gian miêu tả kể từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa (1767) cho đến lúc Nguyễn Ánh lên ngôi vua (1802). Cùng các tác phẩm của  Ngô Thì Sĩ như Việt sử tiêu án, Nghệ An thi tập, Hải đông chí lược, Đại Việt sử ký tiền biên, Ngọ phong văn tập, Anh ngôn thi tập, Hải Đông chí lược…. Và hơn 20 tác phẩm có giá trị của Ngô Thì Nhậm như: Hàn các anh hoa, Hi Doãn thi văn tập, Bang giao hảo thoại, Xuân Thu quản kiến, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh…Có thể nói, Tả Thanh Oai là một làng khoa bảng lớn, một làng văn chương lớn bậc nhất không chỉ của Thăng Long – Hà Nội, mà của cả nước Việt ta.

II. CƠ SỞ KINH TẾ.

Về sở hữu ruộng đất, theo bản Hương ước lập năm 1920, làng có 221 mẫu 9 sào công điền. Trừ các khoản ruộng không chịu thuế, bị úng, ruộng tế lễ, còn 123 mẫu đem chia cho 977 suất đinh nam, mỗi người được 1 sào 4 thước, nhận theo giáp trong các kỳ chia ruộng.

Về ruộng tư, trước Cách mạng Tháng Tám, làng có 709 mẫu, song trong làng không hình thành một tầng lớp có nhiều ruộng đất, chỉ có ông Ngô Vi Tùng có trên 50 mẫu ruộng. Mối quan hệ giai cấp giữa hai đối cực địa chủ - bần nông ở đây mờ nhạt. Trong cải cách ruộng đất, làng chỉ có một người thuộc thành phần địa chủ. Điều này do ruộng đất xấu, làm ruộng rất khó khăn, thu nhập thấp và không ổn định; trong khi đó, việc buôn bán thuận tiện và hiệu quả hơn nên người làng không chú trọng đầu tư vào ruộng đất. Hơn nữa, làng có nhiều người đi làm quan, công chức nên ruộng đất của họ thường giao cho anh em bà con cày cấy, giống trường hợp các làng Nguyệt Áng, Đông Ngạc.

Cuộc sống của dân làng khi xưa, Tả Thanh Oai nằm sát khu vực “rốn” trũng của châu thổ Bắc Bộ, đất đai kém màu mỡ, lại thường xuyên chịu tác động của nước lũ sông Nhuệ và sông Hồng cùng nguồn nước của nhiều xã thuộc hai huyện Thanh Trì, Thanh Oai và từ nội thành đổ dồn về. Thế đất ấy làm cho đồng ruộng canh tác rất khó khăn, hơi nắng một chút là bị hạn và chỉ cần một trận mưa từ 80 ly trở nên là nhiều cánh đồng bị úng. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên, lúa xấu và năng suất rất thấp. Câu ca của làng “Lúa đồng làng Tó, chó chạy hở đuôi” lưu truyền là vì thế. Mặt khác, mặc dù Tả Thanh Oai là làng nhiều ruộng, nhưng có đến gần 40% ruộng là công điền (gồm quan điền, ruộng hậu họ, phe giáp…) Chỉ riêng quan điền, theo bản khai trong cuốn “Lư sử điển yếu điều lệ” đã là trên 200 mẫu. Còn lại ruộng đất tập trung vào các gia đình khá giả. Vì vậy, phần lớn các gia đình còn lại không có đủ ruộng đất để làm ăn, phải đi làm thuê, cuốc mướn hoặc có nghề khác. Nguồn thu từ nông nghiệp không đủ để nuôi sống con người.

III. TỔ CHỨC XÃ HỘI

1 –CƠ CẤU TỔ CHỨC LÀNG.

Tả Thanh Oai vẫn theo mô hình của làng Việt ở Bắc Bộ gồm:

Dân chính cư (còn gọi là nội tịch), là dân gốc của thôn, cư trú ở làng hơn ba đời, có một ít điền sản, dân chính cư được hưởng nhiều quyền lợi hơn dân ngụ cư rất nhiều. Dân ngụ cư (còn gọi là ngoại tịch), là dân ở nơi khác đến.

Dân chính cư được chia làm 5 hạng:

1-Chức sắc gồm những người đỗ đạt hoặc có phẩm hàm vua ban.

2-Chức dịch gồm những người đang giữ những chức vụ nhất định trong bộ máy hành chính.

3-Lão.

4-Đinh.

5-Ty ấu.

Ba hạng đầu gồm chức sắc, chức dịch và lão lập thành bộ phận quan viên hàng xã. Quan viên lại được chia thành ba nhóm theo lứa tuổi là kỳ mục, kỳ dịch, và kỳ lão:

-Kỳ mục là quan trọng nhất, có nhiệm vụ bàn bạc và quyết định các công việc của xã. Kỳ mục còn được gọi là hội đồng kỳ mục, do tiên chỉthứ chỉ đứng đầu.

-Kỳ lão gồm những người cao tuổi nhất, có vai trò làm tư vấn cho hội đồng kỳ mục.

-Kỳ dịch, hay còn gọi là lý dịch, thường do hội đồng kỳ mục cử ra, có nhiệm vụ thực thi quyết định của hội đồng kỳ mục. Đứng đầu nhóm lý dịch này là lý trưởng (còn gọi là xã trưởng); dưới đó có phó lý (giúp việc), hương trưởng (lo việc công ích), trương tuần (còn gọi là xã tuần, lo việc an ninh). Phương tiện quản lý chủ yếu là hai cuốn sổ là sổ đinh (quản lý nhân lực) và sổ điền (quản lý về kinh tế).

Làng có 12 xóm chạy dọc làng, men theo bờ sông Nhuệ là: Tổ Thị Thượng, Tổ Thị Trung, Văn Lâm, Đức Lâm, Chùa Phe, Đình, Trúc Tĩnh, Ngõ Hầu (Phóng Đăng), Đường Khôi, Lạc Thị (xóm Chợ), Hàng Búa, Khánh Hội.

Ở Tả Thanh Oai, điều đáng lưu ý nhất là từ xa xưa, làng đã có hai đình: hoa Xá và Tổ Thị, mà Đình làng là:

-trung tâm hành chính: mọi công việc quan trọng đều diễn ra ở đây, hội đồng kỳ mục, lý dịch làm việc ở đây; thu sưu thuế tại đây; xử tội người vi phạm lệ làng cũng ở đây,...

-trung tâm tôn giáo: là nơi thờ thành hoàng làng.

-trung tâm văn hóa: là nơi tổ chức các lễ hội văn hóa của làng như hội đấu vật, đánh cờ, hát chèo v.v ...vào các dịp lễ, tết hay lúc công việc đồng ruộng đã hết.

Các giáp được tổ chức theo hai đình này, giáp có các đặc điểm sau:

Chỉ có đàn ông mới được tham gia vào giáp, có tính cha truyền con nối, cha ở giáp nào, con ở giáp ấy.

Đứng đầu có ông cai giáp (câu đương), giúp việc cho cai giáp có ba ông lềnh (lềnh nhất, lềnh hai, lềnh ba). Giáp được chia thành ba hạng: ty ấu: từ nhỏ đến 18 tuổi; đinh (hoặc tráng): 18 đến 59 tuổi; lão: 60 tuổi trở lên.

Con trai, khi mới sinh được cha làm lễ để được vào giáp, lúc này nó thuộc hạng ty ấu. Vào giáp lúc này có quyền lợi là được chia phần khi làng có lễ hội. Đến 18 tuổi, người con trai phải làm lễ làng để lên đinh hoặc tráng (đinh = đứa, tráng = khỏe mạnh). Đinh, tráng có nghĩa vụ với làng (giúp đỡ trong các dịp lễ lạt, đình đám) và với nước (đóng sưu thuế, đi lính, đi phu). Về quyền lợi thì đinh, tráng được ngồi trên một chiếu nhất định trong kỳ họp hành, ăn uống, hoặc được nhận một phần ruộng công để cày, ngoài ra còn được thêm một phần hoa màu khi thu hoạch. Đến 60 tuổi (có thời gian còn hạ tuổi xuống còn 49, 50 hoặc 55), đàn ông được lên lão làng, đó là một vinh dự rất lớn, được mọi người nể trọng, xin ý kiến khi gặp khó khăn.

Các giáp được gọi tên theo vị trí, khởi đầu có 12 giáp, gồm tám giáp “ăn” theo  đình Hoa Xá là: Đức Lâm, Phúc Lâm, Hoa Xá, Đường Khôi (mỗi giáp này sau lại chia thành hai giáp Đông và Tây) và bốn giáp “ăn” theo đình Tổ Thị là: Đông Thượng, Tây Thượng, Đông Trung và Tây Trung. Về sau, các giáp lớn này lại chia thành nhiều giáp nhỏ (năm 1942, có trên 20 giáp). Giáp là đơn vị quản lý nhân đinh, tổ chức đảm nhiệm việc biện lễ trong làng. Các giáp lần lượt đăng cai, phải biện lễ theo các tiết lệ hàng năm ((Trong cả cuộc đời, mỗi đinh nam phải một lần sửa lễ cho làng, hoặc thổi xôi hoặc làm cỗ. nếu là thổi xôi thì phải thổi 20kg gạo nếp, thành thứ xôi trắng mịn, sau đó chia thành hai mâm kèm theo hoa quả các loại, đem ra đình để làng làm lễ vào dịp hội lễ của làng. Nếu làm cỗ thì gồm: 40 chiếc bánh chưng (mỗi chiếc một kg gạo nếp), 40 cái bánh dày, 40 bát chè kho. Số bánh dày, chè kho đem chia cho các thượng lão (từ 50 tuổi trở lên) và tư văn. Bánh chưng chia cho các kỳ mục. Giáp còn là đơn vị để phân bổ và quản lý công điền rồi chia đều đến các thành viên trong các kỳ chia ruộng đất (ba năm một lần); tổ chức  tang lễ cho người quá cố. Ngoài ra, giáp còn có trách nhiệm cử người trông coi nước trong vụ cầy cấy (gọi là giáp chấp thuỷ), bồi trúc đê theo địa phận được giao.

Truyền thống văn học của Tả Thanh Oai còn thể hiện ở một nguồn tài liệu Hán Nôm khá phong phú được lưu giữ tại làng, gồm văn bia, bảng khắc gỗ, gia phả… Đáng kể nhất là cuốn “Lư sử điển yếu điều lệ”. Đây là một văn bản quý hiếm vì tại Viện Nghiên Cứu Hán Nôm không có tài liệu nào thuộc loại hình  được gọi là “Lư sử”. Trên thực địa, cũng chưa gặp một cuốn Lư sử nào. Vậy chỉ có những làng có truyền thống Nho học và khoa bảng, có đội ngũ nho sĩ đông đảo, có ý thức với “đạo Nho”. Có tâm huyết với truyền thống làng mình mới có thể soạn ra những tác phẩm Hán Nôm phản ánh đời sống, lịch sử của làng, chẳng hạn, làng Quỳnh Đôi (Nghệ An) với Quỳnh Đôi hương biên, làng Đông Ngạc (huyện Từ Liêm) với Đông Ngạc xã chí, làng Tam Sơn (Bắc Ninh) với Thượng cổ xã Tam Sơn đồng dân công ước chí, làng Hạ Yên Quyết (quận Cầu Giấy) với Bạch Liên khảo ký….Tuy nhiên, các tác phẩm trên chỉ là “chỉ” hay “biên”, còn Lư sử thì dường như chỉ có ở Tả Thanh Oai.

Ngoài sự tích về Lê Hoàn (Thành hoàng làng) và bà Chúa Hến (cô gái làng Tó, vợ Lê Hoàn, được tôn làm Đô Hồ Phi Nhân), “Lư sử điển yếu điều lệ” còn chép các quy định về thể lệ biện lễ, hành lễ trong các kỳ cầu cúng hàng năm ở hai đình Hoa Xá và Tổ Thị: về các hoạt động hành chính chung của làng: về địa lý , cương giới, sông ngòi, gò núi, miếu đình, chùa quán , chợ cầu, đường sá, việc chia tách các giáp, việc xây dựng, tu bổ các công trình trong làng; các quy định của làng về việc giữ gìn các gò đống thiêng, việc biện lễ, cắt lính, chia phần biếu, mai táng… “Lư sử điển yếu điều lệ” là tác phẩm có giá trị nhiều mặt và chủ yếu nội dung là luật lệ của làng Tả Thang Oai thời bấy giờ.

2 - LỆ LÀNG.

1-“Hoa xá đình ngọc phả tự”

Viết năm 1572, có: Bài tựa của Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1568), Lễ bộ thị lang, Thanh Xuyên bá Lê Công soạn: “Hoa xá đình ngọc phả tự” nói về công đức các vị thần được thờ ở đình Hoa Xá làng Tả Thanh Oai.

2-“Hoa xá lê đế phi miêu phả lục”.

Viết năm 1572 về đình Hoa Xá, quan Hàn lâm viện, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn cuốn “Hoa Xá Lê đế- phi miếu phả lục” vào năm Hồng Phúc nguyên niên.  Chép sự tích về Lê Hoàn và vợ ông là bà Chúa Hến-người làng Tả Thanh Oai, là những vị thần được thờ ở đình làng.

3-Viết năm 1740 về đình Hoa Xá, là quan Quản giám bách thần chi điện, Hùng lĩnh thiếu khanh Nguyễn Hiền sao lại cuốn “Hoa Xá Lê đế- phi miếu phả lục” vào năm Vĩnh Hựu. Còn phần “Lư sử điển yếu điều lệ” thì do cụ Tưởng Đức Hiển, có làm ra quyển sách chép các công việc ở làng xóm gọi là bộ “lư sử” đây là các điều lệ mà nhân dân trong làng vẫn thường xuyên phải tuân thủ từ trước, đã được hội đồng Hương Lão thông qua, “lệ làng” mà ngày xưa ở làng thì (phép vua còn thua lệ làng). được trình làng vào ngày tế ở đình 15 tháng Giêng có các cụ quan triều duyệt: 1 cụ Ngô Đình Thạc (1678-1740) 62 tuổi, là Nhập thị Kinh Diên, tước Quận Công, Tham tụng  Hộ bộ Thượng thư. 40 năm đỗ Tiến sĩ; 2 cụ Ngô Đình Chất (1686-?) 54 tuổi, làm Đô Ngự Sử, Bồi tụng kiêm Tán lý trung quản, Binh bộ Thượng thư, tước Nhuệ Xuyên hầu, 19 năm đỗ Tiến sĩ; 3 cụ Ngô Tuấn Dị (1655-?) 85 tuổi, làm quan đến Hàn lâm viện Hiệu Thảo, 52 năm đỗ Tiến sĩ; 4 cụ Ngô Vi Nho (1659-?) 81 tuổi, làm quan Giám sát Ngự sử, 45 năm đỗ Tiến sĩ; 5 cụ Ngô Vi Thực (1663-?) 77 tuổi, làm quan đến Lễ khoa Cấp sự trung, 49 năm đỗ Tiến sĩ; 6 cụ Nguyễn Khắc Trung 50 năm đỗ trung khoa, khoa Canh Ngọ; 7 cụ Tưởng Đức Hiển (1679-1759), 61 tuổi nguyên chức “Sơn Nam Đốc phủ, chủ bạ”, 29 năm đỗ trung khoa, khoa Tân Mão; 8 cụ Nguyễn Huy Chân, 20 năm đỗ Trung khoa, khoa Canh Tý (1720); và toàn thể quan viên và bô lão trong làng.

Toàn bộ nội dung của lư sử điển yếu điều lệ quyển thứ nhất gồm các phần:

a. Các quy định về cầu cúng ở đình Hoa Xá gồm:

-Những quy định về việc tổ chức thờ cúng ở đình hoa xá: “hoa xá đình kỳ thánh lệ”.

-Quy định về lễ hát xướng và nội dung các lời ca xướng ca ngợi công đức Thành Hoàng, cầu mong sự thịnh vượng của làng xóm trong các dịp hát xướng tại đình: “hoa xá xướng ca mục lục”.

- Quy định về việc biện lễ trong các kỳ tứ quý gồm tết Nguyên đán, Thanh minh, Trung thu, Tết cơm mới: “tứ quý lễ vật tế lễ”.

-Quy định về việc biện lễ của các quan viên trong các kỳ tế lễ: “quan viên ứng tế lễ”.

-Quy định về vị trí của từng hạng quan viên, chức sắc trong tế lễ: “bái toạ”.

-Quy định các giáp làm lễ chay trong lệ tế tháng giêng: “trai bàn lệ”.

-Quy định cho các giáp biện lễ cho Tết Thượng nguyên ở các chùa: “thượng nguyên lệ”.

b. Các quy định về cầu cúng ở đình Tổ Thị, cũng gồm các quy định về các lễ tiết tương tự như ở đình Hoa xá.

c. Các quy định về mặt hoạt động chung của làng gồm:

-“Hội họp lệ”: quy định về hội họp trong làng.

-“Thừa tiền sai viên lệ”: quy định về nhiệm vụ của các chức viên trong làng đi phục vụ các chức quan trên.

-“Ưng tiền sai viên lệ”: quy định việc cúng tiền để cho các chức viên và phu tuần đi việc sai dịch, thu nộp sưu thuế.

-“Hành dịch khẩu lượng tịnh ứng biến lãnh hình lệ”: quy định tiền lộ phí cho các dịch đi việc quan.

-“Phân bố thu nạp lệ”: quy định về việc thu thuế.

-“Trúc đê lệ”: quy định về bồi đắp đê.

-“Viên chức trình sắc lệ”: quy định về việc tu bổ các gò đống thiêng trong làng.

-“Cấm dâm lệ”: phạt những người con gái hoang thai.

-“Cấm đổ bác luân đạo lệ”: quy định xử phạt các hành vi trộm cắp.

-“Binh lệ”: lệ về điều động binh lính cho nhà nước.

-“Tư điền mãi mạ lệ”: quy định về mua bán ruộng đất.

-“Khảo lễ sinh lệ”: lệ về việc khao bằng sắc của những người có khoa trường, viên mục, tư văn…

-“Tuần phòng lệ”: các quy định về tuần phòng, bảo vệ an ninh thôn xóm.

4- Năm 1794 soạn bổ xung cuốn: “Lư sử điển yếu điều lệ” của làng, dưới sự chỉ đạo của cụ Ngô Thì Nhậm có: bài tựa do Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1787), Hàn Lâm viện hiệu lý, Hương Lĩnh bá Nguyễn Đăng Sở, soạn về việc lập cuốn Lư sử của làng,  gồm chép toàn bộ nội dung của “Lư sử điển yếu điều lệ”, bổ xung ở quyển 1 và viết  tiếp phần Lư sử điển yếu chí lược ở quyển 2, “Lư sử điển yếu chí lược quyển hai”, giới thiệu chung về làng gồm các mục: địa lý, cương giới, sông ngòi, gò núi, miếu đình, chùa quán, chợ cầu, đường xá, phân hợp (việc chia tách các giáp), phế đặt (việc xây dựng và sửa hư hỏng các công trình trong làng).

5-Lư sử tục biên là những “lệ làng” được bổ xung sau, do các cụ sống trong thời gian ấy họp thống nhất thực hiện trong làng  gồm các phần:

A.Bản chép ngày 15 tháng giêng năm Gia Long thứ 14 (1815) gồm các quy định biện lễ.

B. Bản chép ngày 15 tháng Giêng Minh Mệnh thứ 15 (1834) quy định về thể lệ cắt lính; ngôi thứ phẩm biếu.

C.Bản chép ngày 23 tháng 12 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) quy định các giáp, các gia đình, cá nhân phải có trách nhiệm giữ gìn các gò đống trong địa phận của mình.

D.Bản chép năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) về thể lệ chia cấp 185 mẫu 7 sào quan điền của làng.

E. Bản chép ngày 2 tháng 7 năm Tự Đức nguyên niên (1848) về biện lễ.

Phần cuối là các bài văn tế thần.

F. 1920 làng Tả Thanh Oai các quan viên và các cụ soạn: lập bản Hương ước làng có cấp ruộng đất cho người đi học.

Ngày ấy các đinh, tráng trong làng phải tuân thủ theo lệ làng. Ai vi phạm đều bị dân làng đưa ra đình phạt vạ.


Biên tập: Bác sĩ Tưởng Văn Hòa

16 - 9 - 2011

STT

Danh tính Thủy tổ, Triệu tố

Khoảng năm đến ở TTO

Số đời

Ngày tế, giỗ tổ

1

Thuỷ tổ họ Ngô Vi.

Bồ-Đốc-Công, Thuỵ Tu-Đức.

1290

25 đời

9 tháng giêng

2

Thuỷ tổ họ Tưởng.

Tưởng Đức Tiên.

1341

23 đời

Chủ nhật sau Rằm tháng Giêng

3

Thuỷ tổ họ Phạm:

Phạm Đãng, tự Văn Đường.

1389

21 đời

15 tháng 9 (âm lịch)

4

Triệu Tổ họ Ngô Thì.

Hiệu: Phúc Cơ

1408

21 đời

17 tháng Giêng

5

Thuỷ tổ họ Lưu.

Lưu Kiến, hiệu phúc tâm.

1408

21 đời

11 tháng giêng

6

Thuỷ tổ họ Nguyễn khai khoa.

Nguyễn Hồ, thuỵ Dưỡng Hạo

1440

23 đời

14 tháng Giêng

7

Triệu tổ họ Nguyễn Xuân

Hiệu: Phúc Tác

1500

22 đời

21 tháng 10 (Âm lịch)

8

Thuỷ tổ họ Đào.

Đào Mẫn Huệ, hiệu Trực Lượng

1506

17 đời

Ngày giỗ:  ??

9

Thủy Tổ họ Nguyễn Thế.

Nguyễn Cao Niên

1523

18 đời

9 tháng Giêng

10

Triệu Tổ họ Trần.

Trần công hiệu Phúc Hậu

1524

19 đời

Ngày giỗ:  ??

11

Thuỷ tổ họ Nguyễn Hữu

tự Thanh Khê, hiệu Phúc Quảng.

1581

16 đời

21 tháng 5(âm lịch)

12

Thuỷ tổ họ Nghiêm.

Nghiêm Phúc Quảng.

1583

11 đời

20 tháng 10 (âm lịch)

13

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Duy.

Huý: Lư, hiệu Phúc Trực.

1698

11 đời

24 tháng Giêng

14

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Tá.

Nguyễn Tá Trực mỹ công.

1701

11 đời

Ngày giỗ:   ??

15

Triệu tổ họ Nguyễn Đào.

Nguyễn Đào Từ Phúc.

1714

12 đời

14 tháng 2 (Âm lịch)

16

Thuỷ Tổ họ Triệu:

Triệu Phúc Cố.

1720

11 đời

18 tháng Giêng

17

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Đức.

Nguyễn Đức Thành, hiệu Lương Bật.

1740

9 đời

10 tháng Giêng

18

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Trần.

Nguyễn Đình Cố hiệu Phúc Lãnh.

1760

11 đời

14 tháng 3 (Âm lịch)

19

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Văn.

Nguyễn Đình Phiệt

1788

Chi trưởng 6 đời và chi thứ 9 đời

16 tháng Giêng

20

Thuỷ Tổ họ Hoàng.

Hoàng Văn Tập.

1848

6 đời

26 tháng 2 (Âm lịch)

21

Thuỷ Tổ họ Bùi.

Bùi Văn Nhạ.

1850

6 đời

20 tháng 3 (Âm lịch)

22

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Huy

Nguyễn Huy Thông.

1850

5 đời

30 tháng 12 (Âm lịch)

25

Thuỷ Tổ họ Nguyễn Thanh.

Nguyễn Thanh Quang.

1886

7 đời

18 tháng 05 (Âm lịch)

26

Họ Nguyễn Như.

Thuỷ Tổ: ??

1900

Thất lạc gia phả

12 tháng 6 (Âm lịch)

27

Họ Vũ.

Thuỷ Tổ:  ??

1901

Gia phả bị cháy hết

Ngày giỗ: ??

28

Họ Nguyễn Quang.

Thuỷ Tổ:  ??

1902

ở làng hơn 100 năm

20 tháng Giêng