Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
Làng khoa bảng Tả Thanh Oai(Tập3/7)
Thứ hai, 26 Tháng 9 2011 05:53



Chương II

TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG LÀNG TẢ THANH OAI
I.                  NHỮNG ĐẠI, TRUNG KHOA THỜI NHO HỌC.

1 - MƯỜI HAI TIẾN SĨ ĐỖ ĐẠI KHOACỦA LÀNG

 Mức đỗ: HG (Hoàng Giáp)=(đệ nhị giáp); TG (đệ Tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân).

Stt  họ tên             ( sinh-mất)    Mức đỗ,          năm đỗ,               tuổi đỗ,   bia Văn Miếu số.

1 Nguyễn Chỉ    (?-?)                       HG          Thái Hoà 11 (1453).       ?           ?

2. Nguyễn Khánh Dung  (?-?)         TG          Hồng Đức 9 (1478).        ?           6

3.Ngô Tuấn Dị   (1655-?)                TG          Chính Hoà 9 (1688).      33.        51

4.Ngô Vi Thực  (1663-1704)          HG          Chính Hoà 12 (1691),    28.        52

5.Ngô Vi Nho    (1659-?)                TG          Chính Hoà 15 (1694),    35.        53

6.Ngô Đình Thạc (1678-1740)        TG          Chính Hoà 21 (1700),    22.        55

7.Ngô Đình Chất (1686-1754)        TG           Bảo Thái 2  (1721),       35.        62

8.Nguyễn Tông Trình (1787-?)       TG          Cảnh Hưng 15 (1754),   31.        73

9.Ngô Thì Sĩ     (1725-1780)           HG          Cảnh Hưng 27 (1766),   41.        77

10.Nguyễn Nha (1750-1816)          TG           Cảnh Hưng 36 (1775),   25.         80

11. Ngô Thì Nhậm (1746-1803)     TG           Cảnh Hưng 36 (1775),   29.         80

12 Ngô Điền (Thận) (1814-?)         HG           Thiệu Trị 1  (1841),       27.      ? Huế.

Với 12 người đỗ đại khoa, Tả Thanh Oai là một trong 22 làng khoa bảng tiêu biểu trong cả nước như sau:

Làng       số                            Chia ra                                     huyện,         thành phố (tỉnh) . 

             Tiến    Trạng     Bảng  Thám  Hoàng  Tiến  Phó

               Sĩ      nguyên   nhãn   hoa      Giáp     sĩ      bảng

1. Mộ     34          1           0        0          10       23       0       Bình Giang,   Hải Dương

 Trạch

2. Kim     22          0           1         0          3        18        0       Quế Võ,         Bắc Ninh      

    Đôi 

3. Đông    21         0           1         0          2        16        2       Từ Liêm,         Hà Nội         

   Ngạc

4. Tam     17          2           1         1          3          9        1       Từ Sơn,           Bắc Ninh

     Sơn

5. Uông   12          1          0         0           2         9        0        Nam Sách,      Hải Dương

      Hạ 

6. Tả        12          0           0         0           4         8        0        Thanh Trì,      Hà Nội

   Thanh

    Oai

7. Quan    12          0           0         0           3         9        0         Lập Thạch,    Vĩnh Phú

     Tử

8. Nguyệt  11        1             0         1          0         9         0        Thanh Trì,     Hà Nội

    Áng

9. Hương   11        1            0         0          4         6         0        Từ Sơn,         Bắc Ninh

     Mạc

10. Lạc      11        1            0         0           2        8          0        Văn Lâm,     Hưng Yên          

     Đạo

11. Nhân   11        0            1         0          2          8         0        Nam Sách,    Hải Dương

       Lý

12. Cổ       11        0            0         0          2          9         0        Nông Cống,  Thanh Hoá

      Đôi

13. Hoa     11        0            0         0          2          7         2       Văn Giang,    Hưng Yên

      Cầu

14. Chi      10        0            0         2          2         6          0       Chương Mỹ,  Hà Nội

       Lê

15. Vĩnh    10        0            0         2          2         6          0       Từ Sơn,         Bắc Ninh

      Kiều

16. Yêu      10       0            0          1         2          7          0       Việt Yên,      Bắc Giang

     Ninh

17. Phù      10       0             0          1        0          9           0       Từ Sơn,        Bắc Ninh

      Khê

18.  Hạ       10       0             0          0        2          8           0        Cầu Giấy,    Hà Hội      

      Yên

    Quyết

19. Nguyệt  10      0             0          0        2          8           0        Hoằng Hoá, Thanh Hoá

     Viên

20. Thổ       10      0             0           0       2           8           0        Ân Thi,        Hưng Yên

     Hoàng

21. Phú        10      0             0           0       0          10          0       Gia Lâm,      Hà Nội

      Thị

22. Đông      10      0            0           0       0            7          3        Đức Thọ,      Hà Tĩnh

      Thái

 -Hành trạng của 12 vị đại khoa làng Tó:

Trong 12 vị Tiến sĩ của làng, nổi bật nhất là danh nhân Ngô Thì Nhậm đã được nhà nước công nhận, nên tư liệu tương đối phong phú, và Ngô Thì Sĩ trong các tác phẩm của Ngô gia Văn phái cũng như gia phả họ Ngô Thì lưu danh tương đối đầy đủ. Còn 10 vị Tiến sĩ khác, sử cũ cũng như các sách Đăng khoa lục không ghi chép được mấy thông tin về sự nghiệp và cuộc đời các vị. Xem các ghi chép trong chính sử, văn bia Quốc Tử Giám, ghi chép ở gia phả các họ, Lư sử của làng Tả Thanh Oai, cùng các giai thoại trong dân gian. Phần viết này chỉ viết được những nét khái quát lớn của các vị đại khoa còn lại của làng Tả Thanh Oai.

1. Nguyễn Chỉ. (không rõ năm sinh, năm mất)

Ông đỗ Hội nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý Dậu niên hiệu Thái Hoà 11 (1453) đời Lê Nhân Tông. Sử cũ không ghi chức quan của ông, ông có con là Nguyễn Khánh Dung, Tiến sĩ kế khoa. Ông được khắc tên đầu tiên trong bia 12 Tiến sĩ ở Văn chỉ làng Tả Thanh Oai, còn ở bia Văn Miếu Quốc Tử Giám không thấy tên là do:

Từ khoa Nhâm Tuất Đại Bảo đến khoa Giáp Thìn Hồng Đức 15 thực tế có 12 khoa thi, đáng ra phải dựng đủ cả 12 bia, nhưng có 2 khoa là khoa Thái Hoà 11 (1453) và Diên Ninh 5 (1458) không thấy có tên trong danh sách 10 bia khắc dựng đợt đầu đã được ghi trong Toàn thư. Không có tư liệu hoặc tác giả nào giúp giải thích về sự thiếu vắng đó. Những suy nghĩ trên hồ sơ văn bia Tiến sĩ, chúng ta không khó lắm để nhận ra rằng 2 khoa này thuộc đời Lê Nhân Tông, những người đỗ đạt phần nhiều còn làm quan dưới triều Lê Nghi Dân, khi Lê Tư Thành còn phải sống hàn vi ở khu Văn Chương chưa được quân khởi nghĩa đón lập làm hoàng đế. Những người thi đỗ trong hai khoa kể trên phần nhiều làm quan trong triều Nghi Dân, sau ngày Thánh Tông lên ngôi rất ít người còn được vua trọng dụng. Có người từng bị vua chỉ trích trực diện như trường hợp Ngô Sĩ Liên mà sử có ghi: “vả lại khi khi Lệ Đức hầu (tức Nghi Dân) cướp ngôi, Sĩ Liên không giữ chức ngự sử đấy sao? Ưu đãi long trọng lắm. Nhân Thọ không dự trong triều chính đấy sao? Chức nhiệm cao lắm. Nay Lệ Đức hầu bị tay ta mà mất nước, ngươi không biết vì ăn lộc mà chết theo, lại đi thờ ta?...”. Tất nhiên đó là tâm trạng nặng nề của vua khi mới lên ngôi, hai chục năm sau đã nhiều thay đổi, nhưng có thể thấy nhà vua vẫn không muốn cho bia đá lưu danh mấy người trong hai khoa thi kể trên. Theo chúng tôi có thể đó là nguyên nhân đã khiến cho hai khoa đó không được dựng bia trong đợt đầu, và cả nhiều đợt truy dựng về sau hai khoa này cũng chưa bao giờ được dựng bia.

2. Nguyễn Khánh Dung. (không rõ năm sinh, năm mất)

 Ông đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức, đời vua Lê Thánh Tông (năm 1478) làm quan Quốc Tử Giám Tế Tửu.

Bài kí bia Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (ở Văn Miếu Quốc Tử Giám).

“Năm thứ 9 sau khi đổi niêm hiệu Hồng Đức, quan bộ Lễ theo điển chế cũ, thi Hội các cử nhân trong nước, trọn hạn trúng cách tất cả 62 người.

Ngày 14 tháng 5 Hoàng Thượng ngự Hiên điện ra bài thi, xem xét bài đối đáp để đánh giá tài năng. Hoàng Thượng dụ bảo danh hiệu cao nhất sĩ tử không đạt tới. Cho nên khoa này về hàng Tiến sĩ cập đệ không có đệ nhất danh, chỉ ban cho Lê Quảng Chí đỗ Đệ nhị danh, bọn Trần Bích Hoành, Lê Ninh đỗ Đệ tam danh; còn lại ban cho bọn Nguyễn Địch Tâm 9 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Hiến 50 người đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân. Theo lệ tất cả đều được đề tên vào đá dựng ở nhà Thái học, nhưng bộ Công chần chừ nên chưa dựng được. Bảy năm sau, đến năm Giáp Thìn, Hoàng thượng xuống chiếu bảo phải truy dựng, sai thần là Đôn Phục soạn bài ký.

Ngước nghĩ: Khí vận quốc gia quan hệ bởi nhân tài, nhân tài cao thấp cốt do nơi khoa mục. Thái Tổ Cao hoàng đế ngay từ khi sáng lập ra triều ta đã dùng kinh nghĩa luận sách để thi học trò, khoa mục khởi thuỷ từ đấy, Thái Tông Văn hoàng đế nối chí kế nghiệp, mở mang kỷ cương, trong niên hiệu Đại Bảo mở khoa thi, nhân tài nối nhau xuất hiện, từ đó khoa mục đại chấn hưng. Nhân Tông hoàng đế nối theo phép cũ, không dám sơ suất.

Hoàng thượng dấy nghiệp trung hưng, khôi phục hết thảy những việc từng bị bỏ bễ, cứ ba năm mở một khoa thi, cách nhau rất đều, thứ tự ban ơn chu tất hoàn hảo. Từ năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo đến nay, cả thảy 10 khoa, lựa được nhân tài cho quốc gia sử dụng đến vô cùng, tốt đẹp thịnh vượng lắm thay! Lại cho khắc tên vào đá để ghi việc tốt, truyền lại sự vinh hiển cho đời sau xem biết. há dung cho hạng người không xứng đáng trà trộn trong đó, ắt phải cứu xét kỹ lưỡng. Bởi vì ý chính triều đình cho dựng bia là cốt mong cho những người tôi trung con hiếu ngày thường thì can ngay nói thẳng, tôn vua giúp dân, khi gặp việc thì vì nước quên nhà, gặp gian nguy thì dám quên mình, khiến người ta chỉ vào tên vào mà nói: người này trung, ngưòi kia thẳng, người này dám tiến cử người tốt, bài xích kẻ gian tà, giúp ích cho nước; người nọ trọn đạo làm tôi, không thẹn danh khoa mục, được như thế thì năm tháng càng lâu mà bia đá càng không mòn. Còn như mượn khoa mục để cầu sự ấm no, mượn khoa danh để làm lối tắt cho đường sĩ hoạn, chỉ lo cho riêng mình, không nghĩ tới việc nước, thì người ta sẽ chỉ tên mà nói: kẻ này gian, kẻ kia nịnh, kẻ này đặt lợi nhà lên trên ích nước, ích mình hại dân, kẻ kia hãm hại người tốt, bè đảng gian tà, ô danh khoa mục, như thế thì càng lâu lại càng thêm rõ tì vết. Nay ý nghĩ sâu xa của việc dựng bia, há phải chỉ cốt lưu lại sự vẻ vang lâu dài mà thôi đâu!

Thần vâng mệnh viết bài ký, nhân đó thuận thêm vài lời để ngụ ý khuyên răn.

Thần kính cẩn làm bài ký.

Hiển cung đại phu Hàn lâm viện thị thư kiêm tú lâm cục tư huấn Nguyễn Đôn Phục vâng sắc soạn.

Cẩn sự lang Trung thư giám chính tự Thái Thúc Liêm vâng sắc viết chữ.

Mậu lâm lang kim quang môn đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc khắc chữ.

Niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484), ngày 15 tháng 8 dựng bia.”

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 9 người.

Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, 50 người.

Trong đó cụ Nguyễn Khánh Dung: huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên (nay thuộc làng Tả Thanh Oai, Xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân).

3. Ngô Tuấn Dị. (1655-?)

Ông sinh năm Ất Mùi, niên hiệu Thịnh Đức 3 (đời vua Lê Thần Tông), và chúa Trịnh là Thanh Đô Vương (Trịnh Tráng). Ông thuộc đời thứ 9 họ Ngô Thì, thủa nhỏ còn có tên là Minh Duệ, hiệu Đôn Cẩn. Ngày đó trong làng bao thiếu niên cùng trang lứa đua nhau ăn học, thời Nho văn thịnh trị nhưng đã gần 200 năm làng không ai đỗ Đại khoa, chỉ có người đỗ Trung khoa hoặc làm quan như: Nguyễn Phúc Diễn, Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Đô cấp sự hộ khoa trường. Nguyễn Khắc Hoan đỗ Trung khoa. Ng«-vi-Vü là T­íng sÜ Lang §oan-Hïng phñ, huÊn §¹o. Ngô Thông Đạt đỗ Thủ Toán Giải Nguyên Khoa Tân Mão làm quan Tri-Trung ở phủ Phụng Thiên. Nguyễn Phúc Thành là quan đại phu Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu phụng thánh việc phó quản Thăng lĩnh bá. Năm ông 17 tuổi (1672) chiến tranh Đàng Ngoài và Đàng Trong mới tạm ngừng chiến, lấy sông Gianh làm giới tuyến. Các khoa thi năm (1673, 1676) ông đều tham dự nhưng không đỗ. Năm ông 22 tuổi (1677) chiến tranh phía Bắc, triều vua thứ 10 (Mạc kính Vũ) ở Cao Bằng bị diệt hẳn. Nhà Mạc chấm dứt từ đây. Dưới thời Định Vương 1682 (chúa Trịnh Căn), chiến tranh Trịnh -Nguyễn đã tạm dừng. Trịnh Căn có điều kiện để củng cố bộ máy cai trị, thi cử thời Nho học thật ngặt nghèo, vào các khoa thi (1680, 1683, 1685), bao sĩ tử làng Tó đi thi cũng đều trượt, lại đợi khoá thi sau. Đến (năm 1688), khi ông 33 tuổi Ngô Tuấn Dị mới thi đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Chính Hoà 9, đời Vua Lê Hy Tông. Thật là vinh dự cho họ Ngô Thì, vinh dự cho làng Tó, sau 210 năm làng mới lại được tổ chức đón bảng vàng Tiến sĩ vinh quy bái Tổ. Năm đó, đồng khoa với ông có 7 người, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân lấy có 1 người, còn Ngô Tuấn Dị (xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Oai) là một trong sáu người đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân. Ra làm quan, ông cùng với hàng ngũ quan lại, trí thức đắc lực giúp cho chúa Trịnh Căn nên đã ổn định được xã hội, kinh tế được phát triển như nông nghiệp và thủ công nghiệp. Bằng nhiều cố gắng ngoại giao, chúa Trịnh đã buộc nhà Thanh trả lại một số thôn ấp vùng biên giới mà họ đã lấn chiếm của ta. Ngô Tuấn Dị, ông là người đầu tiên thuộc họ Ngô Thì đỗ Đại khoa, sau ông làm quan đến Hàn lâm Hiệu thảo. Vào đời vua Lê Hy Tông, làng Tó còn có ba ông nữa đỗ Đại khoa ra làm quan đồng triều như: Ngô Vi Thực, đỗ Hoàng Giáp, niên hiệu Chính Hoà 12 (1691). Ngô Vi Nho đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, niên hiệu Chính Hoà 15 (1694). Ngô Đình Thạc đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sỹ xuất thân niên hiệu Chính Hoà 21 (1700).   

Giai đoạn này ở làng Tó: thôn Tổ Thị và thôn Hoa Xá sát nhập làm một là làng Tó, thời gian này làng có nhiều triều quan, các ông đã thành lập “Văn hội” của làng nhằm rèn luyện cho con em, sĩ tử trong làng có điều kiện tập dược thi cử để sau này đi thi quốc gia.

Việc làng năm 1740 về đình Hoa Xá, ông Ngô Tuấn Dị (1655-?) 85 tuổi, cũng tham gia duyệt “Lư sử” của làng.

4. Ngô Vi Thực. (1663-?)

Ông đỗ Hoàng giáp khoa Tân Mùi, niên hiệu Chính Hoà, đời Vua Lê Hy Tông (năm 1691). Theo Gia phả, lúc nhỏ ông nổi tiếng là thần đồng. Sau khi đỗ, làm quan đến Lễ khoa Cấp sự trung, đươc cử đi đốc chiến ở Cao Bằng và chết trận, đươc truy tặng chức Lễ khoa Đô Cấp sự trung. Theo Việt sử thông giám cương mục thì vào khoảng niên hiệu Chính Hoà (1680-1704) triều đình Lê-Trịnh bàn khôi phục lại thể văn đời Hồng Đức (1470-1497), Ngô Vi Thực và Vũ Thạnh thay nhau đứng ra chấn chỉnh, nhưng rốt cuộc vẫn không sao bỏ được lối văn trước.

5. Ngô Vi Nho (1659 -?)

Ông sinh năm Kỷ Hợi (1659) niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời vua Lê Thần Tông mà Tây Định Vương (Trịnh Tạc) ở ngôi chúa. Ông thuộc đời thứ 13 họ Ngô Vi ở làng Tả Thanh Oai, phụ thân là Ngô Vi Viêm (chi thứ, đời thứ 12) làm quan: chức Tham nghị. Họ hàng Ngô Vi các nơi trong nước trước ông có rất nhiều người đỗ Tiến Sĩ ra làm quan trong cùng thời đại ở các đời khác nhau, từ đời thứ 12 đến đời thứ 14 như: đời thứ 12 có Ngô Nhân Tuấn đỗ Tiến sĩ năm (1640), Ngô Trí Hoà đỗ Tiến sĩ năm (1592), đời thứ 13 Ngô Sĩ Vinh đỗ Tiến sĩ năm (1646), đời thứ 14 Ngô Vi Thực đỗ Tiến sĩ năm  (1691). Thủa nhỏ, ông sống trong một gia đình, dòng họ trâm anh thế phiệt, ông được ăn học, chăm sóc đủ điều trong khi đất nước đang trong giai đoạn “Trịnh Nguyễn phân tranh” ác liệt. Đến năm 21 tuổi (1680), chiến tranh Bắc Nam đã tạm yên được 8 năm, bước vào triều vua Lê Hy Tông đổi niên hiệu Chính Hoà đang được Tây Định Vương, chúa Trịnh Tạc chấn hưng kỷ cương, cơ nghiệp, các khoa thi năm (1680, 1683, 1685, 1688, 1691), ông tham dự không vì lỗi này thì bị lỗi khác mà trượt. Được nghênh đón bạn bè, anh em trong làng Tiến sĩ Ngô Tuấn Dị họ Ngô Thì vinh quy bái Tổ năm (1688) thật là vinh hiển cho cả làng, cả tổng đã kích thích bao quyết tâm phấn đấu của ông. Khoa sau (1691) lại có ông cháu cùng họ là Ngô Vi Thực giành bảng vàng Tiến sĩ về làng làm rạng danh họ mình. Không phí công đèn sách, Năm 35 tuổi khoa thi năm Giáp Tuất niên hiệu Chính Hoà 15 (1694) chỉ có 5 người đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân đã có tên Ngô Vi Nho xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai trong bảng Vàng Đại khoa năm đó. Từ đường họ Ngô Vi Tả Thanh Oai thật vinh hiển được tôn vinh từ đây, nhận hai lễ vinh quy của hai Tiến sĩ cháu, chú kế khoa. Ra làm quan, Ngô Vi Nho đã cùng với nhiều danh sĩ trong nước giúp cho chúa Trịnh ổn định được xã hội, kinh tế được phát triển như nông nghiệp và thủ công  nghiệp vào thời Định Vương (Trịnh Căn). Sau hai khoá thi vào năm Chính Hoà 21 (1700), Tiến sĩ Ngô Vi Nho cùng dân làng lại vinh dự đón Tiến sĩ tân khoa trẻ nhất làng Ngô Đình Thạc họ Ngô Thì 22 tuổi vinh quy bái Tổ. Thế là làng Tả Thanh Oai thật vinh dự có 4 Tiến sĩ đồng triều.

23 năm sau khi đỗ Tiến sĩ, và ra làm quan, dưới thời An Đô Vương (Trịnh Cương), vào năm  Hoàng Việt niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717) ngày 2 tháng 3 dựng bia Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (niên hiệu Chính Hoà 1694) ở Văn Miếu Quốc Tử Giám: có 5 người đỗ Đệ tam đồng Tiến sĩ xuất thân  trong đó có (Ngô Vi Nho người xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai).

Ngô Vi Nho làm quan đến Giám sát Ngự sử. Giai đoạn này, thôn Tổ Thị và thôn Hoa Xá sát nhập làm một làng Tó, Tiến sĩ Ngô Vi Nho cùng nhiều triều quan đã thành lập “Văn hội” của làng nhằm rèn luyện cho con em, sĩ tử trong làng có điều kiện tập dược thi cử để sau này đi thi quốc gia. Năm 1740 cụ cùng các triều quan, quan viên, bô lão trong làng duyệt bộ “Lư sử” của làng Tả Thanh Oai. Để lại cho hậu thế tấm gương sáng ngời về làng khoa bảng Tả Thanh Oai.

6. Ngô đình Thạc (1670-?)

 Ông còn có tên là Oanh, hiệu là Nhân Trai, đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân khoa Canh Thìn, niên hiệu Chính Hoà, đời Vua Lê Hy tông (1700), đảm nhận nhiều chức trách khác nhau. Năm đầu niên hiệu Long Đức (1732), ông được cử làm Phó sứ (Chánh sứ là Phạm Công Dung, làng Đông Ngạc) sang nhà Thanh báo tang Vua Lê Dụ Tông. Sau khi trở về ông giữ chức Binh bộ Thượng thư, nhập thị Kinh Diên, tước Huy Quận công. Khoảng cuối năm 1739, ông làm Tham tụng, Hộ bộ Thượng thư, được đặc phái lên làm Trấn thủ Lạng Sơn. Tháng hai năm Canh Thân (1740) tù trưởng người địa phương là Toản Cơ làm phản, đem quân đến vây đánh Đoàn Thành (trấn thành Lạng Sơn). Lúc ấy trong thành không có binh lính, có người khuyên Ngô Đình Thạc chạy trốn, nhưng ông khẳng khái nói: “Chức phận của ta là ở chỗ giữ lấy đất của triều đình. Ta phải sống chết với thành này, toan chạy đi đâu ?” Rồi ông bị sa vào tay giặc. Sử cũ ghi lại “Đình Thạc giữ tiết tháo, không chịu khất phục, để chết”. Sau ông được truy tặng hàm Thiếu bảo.

7. Ngô Đình Chất (1686-?)

Ông sau đổi tên là Ngô Đình Oánh, em Ngô Đình Thạc, đỗ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái, đời Vua Lê Dụ Tông (năm 1721). Ông từng giữ chức Đô Ngự sử, Bồi tụng kiêm Tán lý trung quân. Vì thua trận khi đi đánh Nguyễn Hữu Cầu, ông bị cách chức. Sau lại được phục chức và thăng dần đến Binh bộ Thượng Thư, tước Nhuệ Xuyên hầu, sau lên tước Phương Quận công. Tháng Bảy năm Cảnh Hưng thứ ba (1742) Ngô Đình Chất là Đô Ngự sử cùng Tham tụng Nguyễn Ngọc Huyễn được giao phân xử lại những binh ngục bị oan uổng, mỗi năm bốn kì vào các tháng quý (ba, sáu, chín và tháng Chạp). Tháng ba năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751) trong kì thi Hương, học trò đua nhau chạy chọt, quan trường coi thường kỉ luật, làm sự gửi gắm công khai, người thi đỗ phần nhiều không phải do lực học, gây bàn tán xôn xao. Trịnh Doanh nổi giận, bèn bắt thi lại, đánh hỏng hơn 200 người; các quan trường thi đều bị biếm hoặc bãi chức. Ngô Đình Chất cùng Trần Huy Mật được giao ra đầu bài trong kì thi lại này.

8. Nguyễn Tông Trình (?-1787)

Ông hiệu là Song Ngọc, thuỵ là Y Mẫn, có tiếng văn hay và hiếu hạnh, đỗ Giải Nguyên kì thi Hương năm Quý Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng, đời Vua Lê Hiển Tông (năm 1743) khoa Giáp Tuất (năm 1754), ông đỗ Đình Nguyên, Đỗ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, làm quan Đông Các Hiệu thư, Phó đốc thị Nghệ An.

9. Ngô Thì Sĩ (1725-1780)

Ông tự Thế Lộc, hiệu là Ngọ Phong, biệt hiệu là Nhị Thanh cư sĩ, các con dâng đạo hiệu là Tự Tại Phúc Lượng Đại hải chân như Lượng Ý Bồ Tát quán trường thọ động Nhị Thanh, thuộc đời thứ 12 họ ngô Thì. Sinh ngày 20 tháng 9 năm Bính Ngọ ( 15-10-1726) trong một gia đình có nhiều người nổi danh. Thuở còn nhỏ Ngô Thì Sĩ được cha ông là Ngô Thì Ức một người có tài năng nhưng không mặn mà lắm với khoa cử đã sớm lui về vui cảnh ruộng vườn, rèn cặp. 10 tuổi cha qua đời, mẹ ông là Tưởng thị Lãng ở vậy nuôi hai anh em trưởng Ngọ Phong công, thứ Văn Túc công, nên Ngô Thì Sĩ được Ông nội là Ngô Trân nuôi dạy. Cụ Ngô Trân nổi tiếng uyên bác, được coi là một trong “Thăng Long Thất Hổ” (bẩy con hổ trong rừng văn Thăng Long) nhưng cũng mãi đến năm 73 tuổi mới đỗ khoa Hoằng Từ được bổ chức Huyện tể ( đứng đầu chính sự một huyện), sau đó Ngô Thì Sĩ được lên kinh đô được học các vị danh sĩ nhà Nho nổi tiếng đương thời như các Tiến sĩ Nghiên Bá Đĩnh, Nhữ Đình Toản. Tuy thông minh và học giỏi nhưng Ngô Thì Sĩ nhiều lần đi thi không đỗ. Mãi đến năm Cảnh Hưng thứ tư (1743) ông thi Hương đỗ đầu, nhưng liền đó thi Hội lại hỏng. Mặc dù đỗ đại khoa muộn nhưng ngay từ năm 1756, qua một kỳ thi tuyển nhân tài, ông đỗ đầu khoa chọn người giỏi, ông đã được tuyển dụng vào ban văn phủ chúa, giữ việc soạn thảo giấy tờ, được vào làm tuỳ giảng cho Thế tử Trịnh Sâm, được gần gũi Trịnh Doanh,  được theo chúa Trịnh Doanh đi kinh lý nhiều nơi, rồi làm giám sát Ngự Sử Sơn Tây, Đốc đồng Thái Nguyên, và trải qua 23 năm ròng, thi nhiều kì khi thì bị đánh trượt “nhầm”, khi thì bị quan trường có ý đánh hỏng, mãi đến khoa Bính Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng (năm 1766), ông mới đỗ đầu kì thi Hội, và thi Đình đỗ Hoàng Giáp. Từ sau khi thi đỗ cho đến cuối đời ông được giao phó nhiều trọng trách đảm nhận nhiều chức khác nhau: Hiến sát sứ Thanh Hóa, Tham chính Nghệ An, Hiệu lý trong toà Hàn Lâm, Thiên đô Ngự sử, Đốc trấn Lạng Sơn, nhưng cũng có thời gian bị nghi kỵ và gièm pha nên bị cách tuột mọi quan chức đuổi về làm dân chịu sai dịch. Trong thời gian làm đốc trấn Lạng Sơn (1779-1780) ông đã cho dời Đoàn Thành (thành Lạng Sơn) ở nơi thấp lên nơi cao và bằng phẳng trên núi Lộc Mã, một vị trí phòng thủ tốt, đề thơ khắc vào thành đá, lại mở mang động Nhị Thanh. Sau đó một thời gian, ông mất ngày 25 tháng 9 năm Canh Tý (19-10-1780), thọ 55 tuổi tại nhiệm sở Lạng Sơn. Ngô Thì Sĩ sáng tác, biên khảo khá nhiều, hiện còn các tập: như Anh ngôn phú tập, Ngọ Phong văn tập, Nghệ An thi tập, Hải Đông chí lược, Bảo chướng Hoằng mô, Khuê ai lục ( đều được thu thập trong Ngô gia văn phái), ngoài ra còn có Việt Sử tiêu án, Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký tục biên (đồng biên soạn). Thơ văn của Ngô Thì Sĩ miêu tả sinh động phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, cuộc sống nhiều màu sắc, phong phú đa dạng, bày tỏ những cảm xúc chân thành trước thế sự, nói lên nỗi lòng, cảnh ngộ, hoài bão, lý tưởng và cả thân phận kẻ sĩ. Trong những tác phẩm văn xuôi có liên quan đến chính sự của ông, nhiều bài đã vạch trần được thực trạng đất nước, phơi bày những nỗi khổ của dân, đặc biệt là người nông dân, và cùng đề xuất được nhiều ý kiến xuất sắc có giá trị. Về mặt sử học ông cũng đã có những nhận định và bình luận sắc sảo có những ý kiến riêng, bổ xung cho sử cũ. Đặc biệt khuê ai lục ( ghi lại nỗi đau lòng về vợ mất) được ông viết với giọng văn tha thiết súc động, bày tỏ một cách sâu sắc về quan niệm hạnh phúc lứa đôi, gia đình, tình yêu, có thể nói là một nét mới trong thơ trữ tình của Việt Nam thời trung đại. sau vai trò khởi phát của Ngô Thì Ức, Ngô Thì Sĩ thực sự là người mở đầu “lãnh tụ” của Ngô Gia Văn Phái. Sử sách cũ đều ghi nhận: Ngô Thì Sĩ là danh nhân kiệt xuất, học vấn sâu rộng, văn chương hùng vĩ, làm rạng rỡ cho tông phái nhà Nho, là một đại gia ở nước ta; vừa là quan văn, vừa là tướng, vừa là nhà sử học, nhà thơ để lại nhiều tác phẩm có tiếng cho hậu thế. Sau khi ông mất được nhân dân địa phương ở núi Nhị Thanh tôn là Thành hoàng làng. Cứ đến ngày 25-9 Âm lịch hàng năm, nhân dân ở 3 làng Vĩnh Trai…. Làm giỗ ông. Từ “bắp Ngô” được nhân dân gọi là “bắp bẹ” để tránh gọi tên ông.

10. Ngô Thì Nhậm (1746-1803)

Ông là con trưởng của Ngô Thì Sĩ, tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên, khi nghiên cứu thiền học lại có hiệu là Hải Lượng, sinh ngày 11/9/ năm Bính Dần (25/10/1746). Ngô Thì Nhậm thời thơ ấu sống trong cảnh nhà bần hàn nơi quê cha đất tổ xóm Văn Đức Lâm, thôn Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì , trấn Sơn Nam này là thành phố thủ đô Hà Nội.

Thủa nhỏ Ngô Thì Nhậm  tên là Phó. Xuất thân từ một gia đình quý tộc, có truyền thống văn học, lên 7 tuổi Ngô Thì Nhậm bắt đầu theo học cụ nội  mình là Đan Nhạc (Ngô Trân). Theo truyền miệng của dòng họ, cậu Phó thường hay chơi với các bạn bè trong thôn xóm. Một hôm cậu Phó  bắt được một con chim sẻ non. Khi vào chùa thắm ở gần xóm, cậu thấy tượng ông Hộ Pháp to uy nghiêm với tư thế tay giơ cao bắt quyết. Cậu Phó thấy vậy liền gửi con chim sẻ vào tay ông Hộ Pháp. Chim bay mất, cậu nói “ gửi ông con chim sẻ mà không giữ được”. Cậu liền bẻ gẫy một ngón tay của ông Hộ Pháp. Đến đêm cụ Ngô Thì Sĩ là bố của cậu Phó, nằm mơ thấy phật báo mộng là cậu Phó bẻ gãy tay của ông Hộ Pháp. Sau gia  đình phải đến chùa để lễ tạ. Theo gia phả, ông vốn có tư chất thông minh, chuyên cần học tập, 11 tuổi đọc được kinh sư truyện. Sau khi cụ Đan Nhạc mất, Ngô Thì Sĩ trực tiếp dạy con. Ngô Thì Nhậm vốn rất thông minh lại cần cù học tập.

 Năm 16 tuổi ( 1761) ông đã soạn được quyền sử học đầu tiên là “ nhịp thập tứ sử toát yếu”. Năm 17 tuổi thi sát hạch ở trường huyện, hai lần đều chiếm hạng ưu.

Truyền thuyết đặt tên “Minh Ngự Lâu”: Ngô Thì Sĩ sau khi dựng xong toà “Ngự Lâu” thì không vừa ý với tên hai chữ “Ngự Lâu”. Khi Ngô Thì Sĩ đang phân vân thì Ngô Thì Nhậm xin thưa với cha cho đặt tên là “Minh Ngự Lâu” tức là (lầu ngự vào buổi sáng). Được cha khen hay.

Năm 21 tuổi (1768) ông soạn cuốn “Tứ Gia Thuyết Phổ”, cùng năm này khoa thi Hương năm Mậu Tý (1768) ông đỗ Á nguyên. Truyền thuyết đặt tên “Nhậm”: khi bé Ngô Thì Nhậm tên là Phó, lúc lớn lên Ngô Thì Sĩ chưa nghĩ được tên cho Ngô Thì Nhậm là gì, thì Ngô Thì Nhậm xin với cha là cho con thêm một nét phẩy trên đầu tên cha. Tức là Sĩ chữ Nho: 士 thêm nét / trên đầu chữ 士 thành chữ 士 là chữ nhậm, vậy có tên là Nhậm. Cha khen là sau này con hơn cha.

 Năm sau (1769) ông đỗ khoa Sĩ vọng được bổ chức Hiến sát phó sứ Hải Dương. Với chức quan chánh thất phẩm này,Ngô Thì Nhậm chính thức bước vào cuộc đời  hoạt động chính trị, mong muốn thực hiện hoài bão làm một hiền thần như Y Doãn. Tuy làm quan ông vẫn chăm học, khi rỗi rãi còn mở lớp dạy học, học trò theo học rất đông. Cuối năm 1771, gặp lúc cha bị cách chức thì Ngô Thì Nhậm cũng xin về phục dưỡng cha.

Năm 1772, Ngô Thì Nhậm dự khảo thi ở Quốc tử giám đỗ ưu. Cũng trong năm này ông hoàn thành tác phẩm Đông Chí lược.

Năm 30 tuổi, Khoa Ất Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng, đời Vua Lê Hiển Tông (1775), ông đỗ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, được bổ lại chức Hiến sát phó sứ Hải Dương. Khoa này có 18 người đỗ, không có đệ nhất, đệ nhị giáp, chỉ toàn là đệ tam giáp tiến sĩ, ông đỗ thứ năm, cùng đỗ khoa này có em rể ông là Phan Huy Ích và người cùng làng là Nguyễn Kha. Sau khi đỗ tiến sĩ ông được bổ chức Hộ Khoa Cấp sự trung ở bộ Hộ. Năm (1776), Bính Thân ông được thăng “ Giám sát ngự sử đạo Sơn Nam”. Lại Thăng Đốc Đồng Trấn Kinh Bắc. Một trong 4 trấn quan trọng nhất xung quanh kinh đô. ( Kinh Bắc lúc đó gồm Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên và một phần tỉnh Vĩnh Phú ). Năm 1778 kiêm Đốc đồng Thái Nguyên ( dưới  Đốc trấn) có nhiệm vụ tra xét ngục tụng.

Lúc này Ngô Thì Sĩ đang làm Đốc trấn Lạng Sơn, một trong các trấn biên giới, một mình hai  cha con thống lĩnh ba trấn và 2 biên thuỳ. Cha Nguyên đình, con Tiến sĩ, “Cha con đồng triều, phụ tử thế khoa”. “nổi tiếng  văn chương với thiên hạ, trung thành cố kết với chúa thượng” thời bấy giờ là  hiếm có mà gia tộc tự hào. Trong thời gian này ông có tham gia đánh dẹp vụ Hoàng Văn Đồng ở Thái Nguyên và được Trịnh Sâm gửi giấy đến trong quân khen là “đốc đồng giỏi”… ít lâu sau lại đi kinh lược xưởng đúc bạc ở mỏ Tông Tĩnh Thái Nguyên.

Năm kỷ Hợi (1779) về kinh thăng làm Đông các Hiệu thư hàn lâm viện Hiệu Thảo “Hiệu thư Toà đông các” có nhiệm vụ hiệu đính các văn từ sách vở, làm thày dạy cho Trịnh Tông (Trịnh Khải). Soạn sách “Thánh triều hội giám” được Trịnh Sâm khen.

Năm Cảnh Hưng thứ 41(1780), tháng 7 xảy ra vụ án Trịnh Tông. Ngô Thì Nhậm bị ngờ có dính líu, ông được thăng Công bộ hữu Thị lang. Nên năm 1782 quân Tam phủ lập Trịnh Tông lên nắm quyền ông phải lánh ra quê vợ ở Sơn Nam (Vũ Thư, Thái Bình) ẩn dật gần 6 năm. Trong thời gian Ngô Thì Nhậm không hề quên sáng tác tập thơ “Thuỷ văn nhàn vịnh” và bộ “Xuân thu quản kiến” ra đời.

Năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất chấm dứt quyền thống trị của  họ Trịnh. Ngô Thì Nhậm từ am Lệ Trạch, Thái Bình trở về Thăng Long nhận chức Đô cấp sự Trung bộ Hộ, kiêm toàn tu quốc sử của triều vua Lê Chiêu Thống.

Năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, Lê Chiêu Thống chạy trốn. Ngô Thì Nhậm lại về ở ẩn ở thôn Kim Quan Thạch Thất Sơn Tây. Trong những năm này ông viết sách  như Kim mã hành dư, Hào mân ai lục, Bút hải tùng đàm.

Ít lâu sau do chính sách cầu hiền chân thành và sáng suốt của Nguyễn Huệ, uy tín lớn lao của người anh hùng áo vải này đã gặp sự suy nghĩ của Ngô Thì Nhậm. Sau bao năm ẩn náu và do Trần Văn Kỷ giới thiệu Ngô Thì Nhậm cùng nhiều kẻ sĩ Bắc Hà đã đi theo Tây Sơn, được Nguyễn Huệ tin dùng, bổ chức Lại bộ Tả Thị lang (Thị Lang Bộ Công), tước Tình Phái hầu dưới triều Tây Sơn Nguyễn Huệ, cùng với Ngô Văn Sở cai quản cõi Bắc Hà.

Ngô Thì Nhậm đã đem hết tâm huyết, tài năng ra đóng góp cho sự nghiệp cứu nước và dựng nước dưới ngọn cờ đào của Tây Sơn. Cống hiến đầu tiên, có ý nghĩa lớn của Ngô Thì Nhậm là thuyết phục nhân sĩ tri thức Bắc Hà ngu trung với Lê Trịnh là sai lầm, đặng kéo họ về phía dân tộc. Có thấy tính chất ác liệt, căng thẳng của cuộc đấu tranh này mới đánh gía được hết ý nghĩa của những cống hiến của Ngô Thì Nhậm. Ông vừa kiên trì vừa thuyết phục đấu tranh không khoan nhượng với lập trường thủ cựu. Những bài viết về vấn đề này  là kiệt tác của lịch sử văn học dân tộc. Ngày nay còn lưu giữ được những bức thư đó. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp giữa phong trào nông dân Tây Sơn và tư tưởng phong kiến. Ngô Thì Nhậm đã thuyết phục được Phan Huy Ích, Trần Bá  Lãm, Ninh Tốn, Vũ Huy tấn, Đoàn Nguyễn tuấn…ra phục vụ Tây Sơn. Chính sách đoàn kết rộng rãi, cô lập, phân hoá kẻ địch cao độ của Tây Sơn,  đã được Ngô Thì Nhậm thực hiện với cả tâm huyết của mình, góp phần không nhỏ vào an ninh chính trị ở Bắc Hà, vùng đất hậu phương lâu đời của tập đoàn Lê- Trịnh.

Khi quân Thanh sang xâm lược nước ta vào cuối năm này, Ngô Thì Nhậm sáng suốt đề ra chủ trương rút lui chiến lược về Tam Điệp, được Ngô Văn Sở đồng tình, tạo điều kiện cho vua Quang Trung nhanh chóng tiêu diệt 29 vạn quân Thanh, ít hao binh tổn tướng, giải phóng kinh thành Thăng Long. Ngày 28/10 Mậu Thân (1788) 29 vạn quân Thanh (chưa kể quân phục dịch), dưới sự chỉ huy của Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị, vượt cửa ải Nam Quan tiến sâu vào nội địa nước ta với dã tâm xâm lược. Nấp dưới chiêu bài nhân nghĩa “Hưng diệt, kế tuyệt” (dấy nước đã diệt, nối dòng đã tuyệt) Tôn Sĩ Nghị phát hịch kêu gọi tướng sĩ Tây Sơn nổi lên chống lại anh em Tây Sơn, dưới sự chi viện thiên triều. Tướng Tây Sơn Nguyễn Văn Diệm và Phan Khải Đức, đóng ở lạng sơn, thấy hịch run sợ, quân lính bỏ trốn quá nửa. Khải Đức hèn nhát đưa thư tới cửa ải xin hàng. Nguyễn Văn Diệm rút lui về kinh Bắc đưa thư cấp báo.

Ngày 25/11 Mậu Thân, Tôn Sĩ Nghị đưa quân đến Thị Cầu, uy hiếp trực tiếp Thăng Long. Ngô Thì Nhậm  đã thảo cho Ngô Văn Sở một bức thư đề nghị hoãn binh. Một mặt theo kế sách của Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở và các tướng sĩ rút về núi Tam Điệp để hội quân với quân của  Nguyễn Huệ.

Khi Nguyễn Huệ được cấp báo đã đánh giá cao phần đóng góp này của Ngô Thì Nhậm “trước kia ta phải để Ngô Thì Nhậm ở lại cộng sự với các ngươi, chính là lo sẵn chỗ đó. Bắc Hà với lòng người chưa chịu quy phục. Thăng Long lại là một thành trống trải, có thể bị đánh bốn mặt, sông núi không có chỗ nào khả dĩ nương tựa. Năm trước ta ra tới đó, Chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi. Đó là chứng nghiệm. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đây, quân Thanh  kéo sang, người nào cũng làm nội ứng cho chúng, thì phỏng các ngươi nhấc chân nhấc tay sao được? chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiến cho lòng quân kích thích, ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng đó là một kế rất hay. Khi mới nghe ta đã đoán Ngô Thì Nhậm chủ trương. Lúc hỏi Văn Thuyết quả đúng như vậy.”

Tầm mắt quân sự của Ngô Thì Nhậm không chỉ thể hiện một lần trong cuộc rút lui về Tam Điệp. Dưới thời Lê Trịnh, Ngô Thì Nhậm đã tham gia việc binh, trong Xuân Thu Quản Kiến có nhiều lời bàn về những trận đánh thời cổ đại, chứng tỏ Ngô Thì Nhậm có con mắt của nhà quân sự học. Ngô Thì Nhậm nhìn thấy nhân tố chính trị, nhân tố lòng người trong đấu tranh quân sự. Ngô Thì Nhậm không tách rời quân sự ra khỏi chính trị “văn với võ không phải hai đường”. Ngô Thì Nhậm đánh giá đúng tài năng quân sự thiên  tài và tầm vóc những chiến công của Quang Trung, cũng đánh giá hết sức chính xác cái “ tài đong đấu rá” của Tôn Sĩ Nghị.

Từ sau tết Kỷ Dậu (1789), ông đảm trách công việc ngoại giao với nhà Thanh. Cống hiến tài năng của Ngô Thì Nhậm còn thể hiện trong cuộc đấu tranh kiên trì, mềm dẻo nhưng kiên quyết trên mặt trận ngoại giao.

 Trước khi ra Thăng Long tiêu diệt quân Mãn Thanh, bằng đôi mắt “ Phượng Hoàng  của núi rừng Tây Sơn” của mình. Quang Trung đã tính trước: “Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương thức tiến đánh đã tính sẵn. Chẳng qua l0 ngày có thể đuổi được quân Thanh, nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước mình, sau khi bị thua trận, ắt thấy làm thẹn mà báo thù. Đến lúc ấy chỉ người khéo lời lẽ mới dẹp nổi binh đạo. Không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được”.

Trong những năm sau đại thắng 1789, Ngô Thì Nhậm là người đứng đầu trong công tác ngoại giao triều Tây Sơn. Sau trận thua năm kỷ Dậu, triều đình Mãn Thanh toan tính huy động quân chín tỉnh để tiến hành một cuộc xâm lược trả thù. Các cuộc đàm phán ngoại giao, trao đổi công văn ngoại giao giữa 2 nước vẫn tiếp tục. Cuối cùng Càn Long phải huỷ bỏ việc động binh 9 tỉnh để trả thù và tiếp nhận xứ thần Annam, sang dâng biểu nộp công. Để tỏ thái độ săn sóc đặc biệt đối với Quang Trung. Càn Long ban cho Quang Trung một chuỗi hạt trai và ra lệnh an trí bọn lưu vong Lê Duy Kỳ (Chiêu Thống). Sau những thắng lợi đòi Càn Long phong Vương trước khi đến Yên Kinh. Sau lại thoái thác là vừa có tang mẹ nên không sang Yên Kinh và lập một sứ bộ với Quang Trung giả đến Yên Kinh và được trọng đãi. Ngô Thì Nhậm dưới sự chỉ đạo chiến lược của Quang Trung đòi bỏ lệ cống người vàng, đòi lại đất bảy chân Hưng Hoà, cầu hôn, xin lập đô, đòi sứ giả đến Phú Xuân tuyên phong… Công cuộc bang giao thời Tây Sơn đã đạt được những thắng lợi chưa từng có, đã viết lên những trang sử ngoại giao đẹp nhất, bên cạnh những trang sử chiến thắng huy hoàng và trong chiến công này có phần đóng góp xứng đáng của Ngô Thì Nhậm.

Năm 1790 Quang Trung phong ông là Thượng thư Bộ binh. Ông còn cho mở chợ, nắn lại đường, xây Văn chỉ khắc bia 12 tiến sĩ của làng Tả Thanh Oai.

Ngày 29-7 (nhuận) năm Mậu Tý (15-9-1792). Quang Trung mất sau cơn bệnh đột ngột. Ngô Thì Nhậm được Triều đình cử làm chánh sứ sang Trung Quốc đi báo tang và cầu phong cho vua mới. Lên đường ngày 20/2 Quý Sửu (1793) đến tháng 9 về tới Kinh đô. Kết quả chuyển đi sứ còn là một tập thơ “Hoa Trình” giá trị vào bậc nhất trong di sản thơ ca của Ngô Thì Nhậm .

 Niên hiệu Cảnh-Thịnh năm thứ sáu (1798) tháng 8 ngày 17. Ngô Thì Nhậm  cung tiến đôi ngựa đá ở đình ( có bài văn cung tiến còn giữ ở đình).

Vua Quang Toản lên ngôi nhưng không trọng dụng Ngô Thì Nhậm. Triều đình Quang Toản lục đục. Nguyễn Ánh dựa vào tư bản nước ngoài và cả giai cấp địa chủ phản động. Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh lấy Phú Xuân, chiếm Thăng Long, triều đại Tây Sơn sụp đổ.

Khi Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, lên ngôi vua, Ngô Thì Nhậm cùng các cựu thần nhà Lê có cộng tác với Tây Sơn bị truy bức nghiệt ngã, bị đánh đòn ở ngay Văn Miếu-Thăng Long. Ngô Thì Nhậm lúc này đã về trí sĩ bị gọi đến Văn Miếu kể tội và bị đánh đòn. Ngày 16/2/ Quý Hợi ( 7/4/1803), năm Gia Long thứ hai, ông mất tại quê nhà.

Ngô Thì Nhậm là một nhà văn hoá lớn bậc nhất của thế kỷ 18, thế kỷ của những rung chuyển xã hội và lịch sử, thế kỷ tạo ra những con người khổng lồ của lịch sử văn hoá. Ông là nhà chính trị, nhà văn hoá, nhà trước thuật, nhà tư tưởng, nhà văn…đã có những đóng góp lớn lao trong một thời điểm bi thương và hào hùng của lịch sử. Ông đã để lại một nền văn hoá, văn học lớn. Cùng với các tác phẩm khác của dòng họ Ngô Thì, các tác phẩm ấy tạo nên một đỉnh cao hùng vĩ của văn học Việt Nam trong quá khứ, để lại hơn 20 tác phẩm có giá trị như Hàn các anh hoa, Hi Doãn thi văn tập, Bang giao hảo thoại, Xuân Thu quản kiến, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh… Ông còn là Tổng tài Quốc sử quán, tổ chức biên soạn và in Đại Việt sử kí tiền biên (do thân phụ ông là Ngô Thì Sĩ khởi soạn). Ông đã biết chọn con đường đúng đắn là đi với phong trào nông dân Tây Sơn.

11. Nguyễn Nha (1750-1816)

 Ông sinh năm Canh Ngọ vào năm Cảnh Hưng thứ 11 đời vua Lê Hiển Tông và Minh Đô Vương (Trịnh Doanh) làm chúa, ông thuộc đời thứ 9 họ Nguyễn Thế ở làng Tả Thanh Oai. Thủa nhỏ ông còn có tên là Nam Văn, hiệu là Điềm Khác được sinh ra trong một gia đình  ba đời làm quan. Đời thứ 7 có cụ ông Nguyễn Phúc Hiền làm Tuyên Quang xứ Tán trị Thừa chính sứ ty Tham nghị, Khang Thọ bá được phong tặng Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu và cụ ông Nguyễn Phúc Liêm hiệu Đôn Phác được phong tặng Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Tán trị Thừa chính sứ ty các xứ Tuyên Quang, tước Sĩ Trung hầu. Đời thứ 8 có cụ ông Nguyễn Phúc Đức chức Thừa chính sứ được ấm phong Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Ngự sử đài Thiêm đô Ngự sử, tước Thanh Khê hầu, cụ bà được truy thuỵ, là hoàng tôn nữ quận chúa, được ấm phong quận thượng thượng chúa Lê thị tên hiệu là Từ Ôn. Nguyễn Nha thủa nhỏ là học trò thông minh ham học, năm 16 tuổi (1766) được chứng kiến làng đón Tiến sĩ Ngô Thì Sĩ giành bảng vàng Hoàng Giáp về làng thật là vinh hiển. Từ đấy ước mơ thành đạt, quyết tâm học hành để giành vinh dự về báo ơn Tiên Tổ ngày càng thôi thúc ông miệt mài đèn sách. Lại đúng dịp Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm cho sửa kỷ cương, chính sự cả nước. Trong khi bao nhiêu trai tráng trong làng tiến thân bằng đầu quân theo chúa Trịnh Sâm vào giúp nhà Nguyễn đằng trong “Trừ khử quyền thần Trương Phúc Loan và tôn phò Hoàng Tôn Dương”, thì Nguyễn Nha là một trong những sĩ tử dự khoa thi Hội năm Ất Mùi (1775) niên hiệu Cảnh Hưng đời vua Lê Hiển Tông. Vậy là năm 25 tuổi, đang còn là nho sinh Nguyễn Nha đã giành được bảng vàng “Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân”. Đỗ cùng khoa này ở làng còn có Ngô Thì Nhậm 29 tuổi đã ra làm quan là Thiên tri, Hiến phó. Tháng 11 năm sau (1776) 18 vị Tiến sĩ đỗ đồng khoa này đã được khắc dựng bia ở Văn miếu Quốc Tử Giám. Sau khi vinh quy về làng, Nguyễn Nha được cử làm Sơn Nam học chính  (cai quản các việc học ở phủ Sơn Nam).

Trịnh Sâm sau khi đã dẹp yên các cuộc khởi nghĩa, bốn phương yên ổn, sai ông lên trấn thủ Cao Bằng.

Năm 1782 Trịnh Sâm mất, Trịnh Khải, Trịnh Cán tranh ngôi chúa. Nguyễn Huệ dẹp tan nhà Nguyễn ở đằng trong, kéo quân ra Bắc “phò Lê, diệt Trịnh”. Dẹp yên Bắc Hà, Nguyễn Huệ rút về Nam Hà. Năm 1787 Lê Chiêu Thống lên ngôi vua, Trịnh Bồng lại lên làm chúa, Nguyễn Nha về làm Hành Công bộ Tả Thị lang.

Các hào mục các nơi nổi dậy cát cứ, Vua, chúa lục đục khiến cho triều đình rối ren, chém giết lẫn nhau, Nguyễn Huệ lại phải kéo quân ra Bắc dẹp loạn, chiêu tập các cự thần văn võ nhà Lê, lấy Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận làm giám quốc, giao cho Ngô Văn Sở làm Đại đô đốc ở Thăng Long, rồi lại rút quân về Phú Xuân.

Quân Thanh kéo sang giúp Lê Chiêu Thống, mồng 5 tết năm Kỷ Dậu (1789) bị quân triều đình Tây Sơn do Hoàng Đế Quang Trung trực tiếp chỉ huy kéo ra Bắc đã đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh.

Đất nước bình yên, Nguyễn Nha được cử làm An Quảng Tán trị thừa chính sứ ty, tước Tả Khê bá.

Năm 1792, Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ từ trần. Cảnh Thịnh Hoàng Đế (Nguyễn Quang Toản) nối ngôi, Vua lên ngôi lúc 10 tuổi còn nhỏ quá, triều đình quần thần lục đục, nghi kỵ lẫn nhau, hàng ngũ quan lại Bắc Hà không được trọng dụng.

Nguyễn Nha hiệu là Tả Khê, trong khi làm quan ông có tác phẩm Tả Khê thi văn tập.

Năm 1794 (lúc ông 44 tuổi), với dòng họ còn lưu lại (Lời tựa phổ ký Nguyễn Thế) như sau:

Nhà phải có Phổ cũng như nước phải có sử, lẽ ấy thật rõ ràng. Cụ Tổ họ ta vốn ở làng Tả Thanh Oai. Về trước nữa thì không rõ; chỉ biết từ cụ Cao Niên trở xuống, qua ba đời đến cụ Đạt Tâm, tránh nạn rời về phía Đông ở làng Trương Toàn, Huyện Gia Phúc tỉnh Hải Dương. Qua một đời nữa truyền đến cụ Phúc Vinh là chi thứ lại trở về làng, truyền kế nhiều đời đến hai trăm tám mươi năm hoặc hai trăm chín mươi năm còn có thể khảo cứu được. Song sự ghi chép có nhiều chỗ thiếu sót; sau khi chạy loạn gia phổ phần lớn có bị thất lạc, đến nay không có đủ văn tự để chứng minh. Hai ông bác là cụ Trung Nhạc, cụ Điềm Hiên, căn cứ vào sự ghi chép cũ, tập hợp lại làm bản gia phổ. Tuy không thể làm tường tận hơn những điều sơ lược cũ, song cũng nhờ có phổ ấy nên lớp hậu sinh còn có thể khảo xét để biết những điều khái lược. Công ấy lớn lao thay!

Song phổ ấy ghi chép về sự tích các cụ xưa, về truyện rời đi chuyển lại, trước sau thế nào, chỉ căn cứ vào truyền thuyết của tiền nhân mà thôi, chưa được xét nghiệm cho thật chính xác. Về thế hệ thì từ cụ Phúc Sinh, về sau chỉ ghi rõ cành trưởng, còn các chi khác đều ghi chép sơ sài. Sau càng xa sẽ coi sự miệng truyền, tai nghe ( có thể không đúng) là đáng tin cậy. Sau lại chia chi, biệt phái, càng xa càng nhiều thì càng thưa, sẽ quên đi không biết rằng tổ tiên ngày xưa xuất phát vốn là một mà thôi. Nay trong họ từ hàng chắt chú, chắt bác trở đi thường không hiểu rõ quan hệ họ hàng với nhau gần, xa thế nào. Thậm chí, có chuyện sống đặt trùng tên, chết đặt trùng Thuỵ, hiệu với nhau. Nha này lo sợ mới nhân phổ cũ mà tu sửa lại, điều gì được mắt thấy tai nghe, hiểu biết chắc chắn thì ta biện bạch, đính chính lại những chỗ sai lầm của phổ cũ, lại lượm đặt sự ghi chép của các chi, theo thứ tự ghi biên gộp lại, lập ra những điều khoản thể thức riêng thành khuôn phép một nhà; để cho cái thứ tự chiêu, mục trước sau, các danh phận nội ngoại thân sơ đều được rõ ràng.

Mong rằng các chi trong họ theo đúng cách ấy mà tiếp tục ghi biên, mỗi nhà đều có một bản để bổ sung những điều thiếu sót của hai ông Bác (Trung Nhạc, Điền Hiên) ta. Con cháu sau này, có ai biết đứng lên kịp thời tu sửa, bổ sung thêm, tiếp tục mãi, thì đây là bước đầu vậy. Tuy thế pháp độ bao giờ cũng phải đợi người mới làm được. Việc tu sửa của Nha này chỉ mới gọi là thể thức của phổ mà thôi. Còn cái tính hoà thục, cái nghĩa đôn hậu trong họ giúp đỡ nhau trong cuộc sống; thăm hỏi nhau trong vui buồn, nghe thấy điều gì ghi chép ngay vào sách vở, để ngày sau biết rõ được ngày nay, không có điều phàn nàn đáng tiếc về sự sơ lược, thiếu sót nữa. Đó là điều mong muốn trong khi biên soạn phổ ký này vậy.

Ngày mùa thu năm Giáp Dần (1794), đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùi (1775) - Tả Khê Cư Sỹ Nguyễn Nha làm lời tựa này.

Khi Nguyễn Ánh diệt xong nhà Tây Sơn lên ngôi Hoàng đế (1802), Nguyễn Nha đã 52 tuổi là Tả Khê Cư Sỹ.

Năm 1815 ở Tả Thanh Oai, Nguyễn Nha đã đỗ Tiến sĩ 40 năm tham gia bổ xung Lư sử của làng, ngày 15 tháng Giêng năm (Gia Long 14) gồm: “các quy định biện lễ”.

Năm 1816, ông mất ngày 20 tháng Ba năm Bính Tý đời Gia Long, thọ 66 tuổi. Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu hành công bộ Tả thị lang, chức tán trị thừa chính sứ xứ Yên Quảng tước Tả khê bá.

12. Ngô Điền (1814-?)

 Ông sinh năm Giáp Tuất vào niên hiệu Gia Long thứ 13 triều vua Nguyễn Thế Tổ. ông thuộc vào đời thứ 15 họ Ngô Thì, thủa nhỏ còn có tên là Ngô Chân, tự Củ Doanh, hiệu Phúc Hiên (Đình Điền). Sau khi vua Nguyễn Ánh lên ngôi, quan lại người Bắc Hà, cũng như ở làng Tả Thanh Oai ít được trọng dụng, nhiều người cáo quan ở ẩn. Năm ông 7 tuổi, triều đình năm thứ 2 vua Minh Mạng (1821) mới cho dựng Quốc Tử Giám, đặt chức Tế Tửu và Tư Nghiệp, mở lại thi Hội và thi Đình. Ông với các học trò cùng trang lứa miệt mài đèn sách, được xem các bậc đàn anh, chú bác trong hội Tư văn mở thi văn học ở làng. Năm ông 17 tuổi (1831) cuộc cải cách hành chính lớn của vua Minh Mạng trong toàn quốc được chia thành 29 tỉnh, Thăng Long thuộc tỉnh Hà Nội. Đã qua mấy kỳ thi Hội, thi Đình, nhân sĩ Tả Thanh Oai chỉ đỗ được đến Cử Nhân. Năm 1834 làng bổ xung “Lư sử” quy định về thể lệ cắt lính, ngôi thứ, biếu phẩm, Ngô Điền đang là Nho sinh nên được miễn trừ đi lính. Các Nho sinh miệt mài đèn sách như vậy mà hơn 60 năm làng không có ai đỗ Đại khoa, đến năm (1838) xem lại thế đất, làng bổ xung “Lư Sử” quy định các giáp, các gia đình, các cá nhân phải có trách nhiệm gìn giữ các gò đống trong địa phận của mình. Vào năm (1840), ông mới đỗ Cử nhân khoa Canh Tý.

Nhà Nguyễn đóng Đô ở Huế, các sĩ tử Bắc Hà mất về địa lợi, đi thi phải lều trõng gần nghìn cây số đường bộ thật là vất vả, nhà không có ngựa đi bộ phải cả tháng mới đến được trường thi kinh thành. Năm sau Ngô Điền 27 tuổi, ông  đỗ Hội nguyên Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị (1841). Năm đó cả thi Hội và thi Đình ông đều đỗ thứ hai, thật là vinh dự cho cả họ Ngô Thì, cả làng, cả tổng, khi ông về vinh quy bái Tổ, vậy là sau 66 năm làng Tả Thanh Oai mới lại có dịp đón Tiến sĩ về làng.

Thời vua Thiệu Trị, Đệ nhị giáp Tiến sĩ Ngô Điền được bổ làm Quan phủ thành Đại Phu, trong địa hạt của mình ông chỉ đạo dân đắp đê trị thuỷ, chống hạn, chống úng, cũng theo lệnh vua Nguyễn Hiển Tổ, cấm người ngoại quốc giảng đạo và trị tội những người trong nước đi đạo. Vì quan hệ đối với phương Tây khi đó, sau khi vua cho thả một số giáo sĩ phương Tây thì tầu thuyền Pháp lại dùng đại bác bắn đắm tầu thuyền của Việt Nam ở Đà Nẵng, làm Vua vô cùng tức giận. Việc làng, năm 1841 ông cùng các quan viên, bô lão trong làng, đưa ra thể lệ  về chia cấp 185 mẫu 7 sào quan điền của làng, cho các đinh giáp người làng cấy cầy.

Đến đời vua Nguyễn Dục Tông, niên hiệu Tự Đức trị vì (1847-1883), ông được thăng chức Tri phủ Nam Sách, thực thi các chính sách của triều đình mà vua Tự Đức dựa vào các triều thần, của phái bảo thủ. “Bế quan toả cảng” cấm buôn bán một cách gay gắt.

 Ngày 2 tháng 7 năm Tự Đức nguyên niên (1848), lại một lần nữa ông cùng các quan viên, bô lão trong làng Tả Thanh Oai bổ xung thêm về biện lễ vào “Lư sử” của làng.

2 - CÁC VỊ ĐỖ TRUNG KHOA:

Stt      họ tên             sinh     mất      đỗ        thi    tuổi    đt khoa     

1.  Nguyễn Khắc Hoan                               1654           trung khoa  

2.  Nguyễn khắc Trung                               1690           trung khoa 

3.  Tưởng Đức Hiển 1679 1759 Tân Mão  1711   32    trung khoa 

4.  Nguyễn Huy Chân                                 1720           trung khoa   

5.  Ngô Tưởng Đạo  1732 1802 Hoành Từ1757  25     trung khoa

6   Ngô (Cẩn Tiết tiên sinh)       Hương Cống               trung khoa

7   Ngô Đình Đoán                     Hương Cống               trung khoa

8   Ngô Tuấn Mậu                      Hương Cống               trung khoa

9   Ngô Đình Nhu                      Hương Cống                trung khoa

10 Ngô Đình Thực                     Hương Cống               trung khoa

11 Ngô Đình Vinh                     Hương Cống                trung khoa

12 Ngô Đình Viên                     Hương Cống                trung khoa

13 Ngô Bá Côn                          Hương Cống                trung khoa

14 Ngô Tuấn Trạc                      Hương Cống                trung khoa

15 Ngô (Tuyết Trai) hiệu           Hương Cống                trung khoa

16 Ngô Tôn Thường                  Hương Cống                trung khoa

17 Ngô Huy Phan                       Hương Cống                trung khoa

18 Ngô Đình Phan                     Hương Cống                 trung khoa

19 Ngô Thời Đính                      Hương Cống                trung khoa

20 Ngô Đình Khải                      Hương Cống                trung khoa

21 Ngô Vi Diễn                          Hương Cống                trung khoa

22 Ngô Phúc Vinh                      Hương Cống                trung khoa

23 Ngô Vi Lẫm                           Hương Cống                trung khoa

24 Ngô Vi  Ngó                          Hương Cống                trung khoa

25 Ngô Vi Huyên                       Hương Cống                 trung khoa

26 Ngô Nghiêm                          Hương Cống                 trung khoa

27 (Ngô) Phúc Thắng Công        Hương Cống                trung khoa

28 Tưởng Đức Gia                      Hương Cống                trung khoa

29 Tưởng Phúc Thuần                Hương Cống                 trung khoa

30 Tưởng Phúc Chân                  Hương Cống                 trung khoa

31 Nguyễn Xuân Sưởng              Cử Nhân        1821       trung khoa

32 Ngô Vi Dực                            Cử Nhân        1821       trung khoa

33 Nguyễn Bùi Tông                   Cử Nhân        1828       trung khoa

34 Ngô Chấn                               Cử Nhân         1849       trung khoa

35 Nghiêm Chuyên                     Cử Nhân         1861       trung khoa

36 Nguyễn Văn Giáp                  Cử Nhân         1864       trung khoa

37 Ngô Đức                                 Cử Nhân        1867        trung khoa

38 Nguyễn Như                            Cử Nhân       1878        trung khoa

39 Ngô Giáp Đậu  1853               Cử Nhân        1897        trung khoa

40 Nguyễn Quỳ                            Cử Nhân        1897        trung khoa

Còn nhiều vị đỗ trung khoa danh sách ở phần các Họ.

II. NGUYÊN NHÂN TRUYỀN THỐNG HỌC HÀNH THÀNH ĐẠT CỦA NGƯỜI LÀNG TẢ THANH OAI.

Cuộc sống của dân làng khi xưa, về cơ sở kinh tế ruộng đất tư tập chung vào một số gia đình giầu có khá giả. Vì vậy, phần lớn các gia đình còn lại không có đủ ruộng đất để làm ăn, phải đi làm thuê, cuốc mướn hoặc có nghề khác. Nguồn thu từ nông nghiệp không đủ để nuôi sống con người. Cuộc sống của dân làng xưa rất khó khăn.

Song chính sự nghèo khó này đã làm cho người làng Tả Thanh oai có ý chí vươn lên để thoát nghèo bằng cách:

+Hướng thứ nhất, làm thêm các nghề phụ và buôn bán. Hướng thoát này của Tả Thanh oai có nhiều thuận lợi vì làng nằm sát kinh đô Thăng Long, trên vị trí giao thông tiện lợi cả về đường thuỷ và đường bộ. Vì vậy, người dân ở đây có nhiều nghề phụ như làm bánh đúc, làm bún, nấu rượu…, các dịch vụ ăn uống : nấu xôi chè, khoai lang luộc, chuối…để có thêm thu nhập.

+Hướng thứ hai, gắng công học hành, thi đỗ để ra làm quan, không phải “chân lấm tay bùn”, có địa vị xã hội, không chỉ ở làng mà còn ở cả “thiên hạ”, làm thay đổi thân phận của bản thân và gia đình mình, tạo các điều kiện thuận lợi cho con cháu kế nghiệp mai sau. Đây là động cơ mạnh mẽ thôi thúc bao sĩ tử sớm hôm đèn sách; cũng là động cơ thúc đẩy bao nhiêu phụ nữ làng Tó tần tảo một nắng hai sương cấy hái, buôn bán ngược xuôi kiếm tiền nuôi chồng con ăn học thành đạt. Ở đây có một mối liên hệ biện chứng: sự đói nghèo từ việc làm nông nghiệp đã thúc đẩy người làng Tó tìm thêm các nghề phụ như buôn bán, làm nghề thủ công và chính các nghề phụ này lại tạo ra một cơ sở kinh tế tương đối ổn định hơn để các gia đình nuôi con cái ăn học.

 Làng Tả Thanh Oai ở sát kinh đô nên việc đi học, đi thi rất thuận lợi, kinh đô lại là nơi tập trung nhiều thầy giỏi, cho nên đi học thì có thầy giỏi, đi thi lại không phải “lều chõng” vất vả như ở những nơi khác. Đấy là lợi thế hơn hẳn của làng Tả Thanh Oai cũng như của các làng ven kinh đô. Làng có những ưu tiên khuyến khích học hành, như trong bản Hương ước lập năm Khải Định thứ năm (1920) có ghi: “Làng có cấp ruộng đất cho người đi học là 40 mẫu học điền”. Những người đỗ đạt, làm quan rất được trọng vọng, có vai trò rất lớn trong đời sống của làng xã. Ước vọng đi học, đi thi đỗ đạt, ra làm quan không chỉ mang đến cho mỗi người cái “lộc”, mà còn là điều vinh hiển, cũng là yếu tố thúc đẩy người làng Tó miệt mài đèn sách.

Trong tâm thức của người làng: thế đất của làng là đất phát đạt về mặt văn học, trong cuốn Lư sử điền yếu điều lệ, mục địa lý có đoạn: “Làng Tả Thanh Oai đất do sông tô dẫn mạch, miếu do nước sông Nhuệ bồi cơ, danh đăng khoa giáp, thế phiệt thi thư, quý mà không phú”.

Ở một đoạn khác sách này có chép, làng Tả Thanh Oai, rồng chầu thước ngọc, nước chảy quanh co, hai bên đố chầu địa mạch từ Tây Hồ và các làng xung quanh (Quang Liệt, Quỳnh Đô, Vĩnh Hưng, Nguyệt Áng) chầu về, dòng Tô Lịch ôm bên phải, tạo ra quý cách. Chỗ quan yếu, nước không ngưng tụ nên có Quan Mã không giữ tài lộc nên dân phần lớn nghèo khó, ít có phú quý có phú quý cũng không lâu bền được. “đó là địa thế tự nhiên vậy. Cho nên phần nhiều là sĩ dân sính về đường học, coi là việc hàng đầu; còn đua nhau cầu lợi, lo tích trước sau đều không phải là địa thế ở đây…” (trích trong Lư sử điển yếu điều lệ, bản chữ Hán soạn năm 1794, lưu tại đình Hoa Xá). Song nhờ có quần thể núi đồi chiếu soi mà chủ khách cùng phát đạt, trâm anh bất tận, khoa mục thịnh hưng… các đời đều có khôi nguyên khoa giáp.

   Ở cổng và trong đình hiện còn đôi câu đối nói về thế đất khoa bảng và “địa linh nhân kiệt” của làng:

Chu lĩnh đối tam thai, địa xuất hầu vương bằng hiện tướng,

Ánh sơn triều bát đẩu, thiên chung khoa giáp lại âm phù.

(Núi Chu sánh Tam thai, đất nổi vương hầu và tướng giỏi,

Hình núi chầu Bát đẩu, trời sinh khoa giáp cậy giúp ngầm).

  Ngoài ra, theo các bậc cao niên trong làng và theo Lư sử điển yếu điều lệ thì xưa kia làng có hàng chục gò đống thiêng, tạo ra sự “âm phù” cho dân làng về đường học hành. Đây là yếu tố tinh thần, tâm linh thúc đẩy người làng Tó “yên vị” với việc học và quyết tâm học hành thành đạt.

"Tương truyền khi Chu Văn An - nhà Nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu mực cuối thời Trần (1292 - 1370), mở trường dạy học ở quê nhà: làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Trì - Hà Nội), có nhiều học trò tìm đến theo học. Trong số này có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe giảng. Thầy dạy khen là chăm chỉ nhưng không rõ tông tích ở đâu. ông bèn cho người dò xem thì cứ đến khu đầm Đại (khu đầm lớn hình vành khuyên, nằm giữa các làng Đại Từ , Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) thì biến mất. Ông biết là thần nước. Gặp lúc đại hạn kéo dài, mùa màng thất bát, giảng bài xong ông tụ tập các trò lại hỏi xem ai có tài thì làm mưa giúp dân, giúp thầy. Người học trò kỳ lạ trước có vẻ ngần ngại, sau đứng ra xin nhận và nói với thầy: "Con vâng lời thầy là trái lệnh Thiên đình, nhưng con cứ làm để giúp dân. Mai kia nếu có chuyện gì không hay, mong thầy chu toàn cho". Sau đó người này ra giữa sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút thấm mực vẩy ra khắp nơi. Vẩy gần hết mực, lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, trời đổ mưa một trận rất lớn. Đêm hôm ấy có tiếng sét và đến sáng thấy có thây thuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An được tin khóc thương luyến tiếc rồi sai học trò làm lễ an táng, nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau nhớ công ơn bèn lập đền thờ. Nay vẫn còn dấu vết mộ thần gọi là Mả Lốt (ở bên đường 70 ngay phía bắc Cầu Bươu). Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đã biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng Khoa Bảng. Làng Tả Thanh Oai trước đây có hai gò đất giống như hai cây bút ở bên bờ sông Nhuệ - phía trên ngôi chùa Tiên Linh tự ( tức chùa Phe hiện nay). Từ đó làng Tả Thanh Oai Nho học phát triển mạnh mẽ. Số người đỗ Tiến sĩ đứng hàng thứ 6 trong số 22 làng khoa bảng trong cả nước. “Ngàn năm lịch sử trời dâu biển” nên đến giờ hình hai gò đất giống hai cây cây bút đã bị nước sông Nhuệ sói mòn biến mất. Nhưng tinh thần hiếu học thì vẫn còn mạnh mẽ đến ngày nay.

  Như vậy, quan niệm về thế đất tạo nên sức mạnh tâm lý, tinh thần để cho người làng quyết chí đi theo con đường học hành thi cử. Nhưng trên thực tế, để có được nhiều người học hành thành đạt, còn có những điều kiện khác, quan trọng và quyết định hơn.

   Điều quyết định cuối cùng cho sự thành đạt về khoa cử của người làng Tó chính là những người đi học. Theo lưu truyền dân gian và gia phả các dòng họ, những người đỗ đạt của làng xuất  thân từ những gia đình có truyền thống gia phong, từ nhỏ đã bộc lộ tư chất thông minh, ham học, quyết nối chí con đường của cha ông, lại được gia đình giành cho những điều kiện thuận lợi căn bản về nhiều mặt và là sự khích lệ lớn cho con cháu trong họ và người làng ganh đua nhau học tập để thành đạt.

Vì sao Tả Thanh Oai được mệnh danh là làng khoa bảng?

Trước hết, Tả Thanh Oai nằm trong vùng có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Bên cạnh Tả Thanh Oai là làng Nguyệt Áng-một làng nhỏ, trước Cách Mạng tháng Tám chỉ có 700 dân nhưng có đến 11 người đỗ Tiến Sĩ, làng Quang Liệt-quê hương của Chu Văn An, Làng Bối Khê của Trạng nguyên Nguyễn Trực, làng Đa Sĩ có 7 người đỗ Tiến sĩ. Sách Đại Nam nhất thống chí chép về huyện phía Tây Hà Nội: “Văn học thịnh phát nhất ở Thanh Oai với đa số người đậu đạt (Chương Đức có 40 vị, Sơn Minh có 16 vị, Hoài An có 1 vị và Thanh Oai có 65 vị). Sống trong vùng đất có truyền thống học hành và đỗ đạt, người làng Tó cũng gắng công đèn sách để không chịu “hổ thẹn” với các làng bên. Ảnh hưởng của những làng có truyền thống hiếu học và khoa bảng trong vùng có tác động tích cực, tạo thành một phong trào học của người làng Tó. Đi học, đi thi và thi đỗ không chỉ đem vinh hiển về cho gia đình và dòng họ mà còn là “tiếng thơm cho cả làng, cả xã”. Tinh thần ganh đua học tập và đỗ đạt của người làng là yếu tố quan trọng để Tả Thanh Oai trở thành làng khoa bảng. 12 Tiến sĩ đã làm dạng danh cho làng Tó: gồm 2 cụ (cụ Nguyễn Chỉ là bố cụ Nguyễn Khánh Dung) đỗ vào thời nhà Lê Sơ lại là hai cha con  thuộc họ Nguyễn khai khoa (phụ tử kế khoa); hai trăm năm sau thời Lê trung hưng niên hiệu Chính Hoà 3 cụ họ Ngô liên tiếp giật bảng vàng đưa vinh hiển về cho làng Tó là: Ngô Tuấn Dị (họ Ngô Thì), Ngô Vi Thực, Ngô Vi Nho; sau họ Ngô Vi lại tiếp 4 cụ họ Ngô Thì có hai anh em đỗ Tiến sĩ kế tiếp (cụ Ngô Đình Thạc là anh cụ Ngô đình Chất) rồi hai bố con đỗ Tiến sĩ kế tiếp (cụ Ngô Thì Sĩ là bố cụ Ngô Thì Nhậm); vào niên hiệu Cảnh Hưng cụ Nguyễn Tông Trình lại giành vinh dự về cho họ Nguyễn khai khoa, còn cụ Nguyễn Nha lại giành vinh dự về cho họ Nguyễn Thế. Hơn nửa thế kỷ sau cụ Ngô Điền đã “lều, chõng” vào tận Huế giành được vinh hiển bảng vàng Tiến sĩ về cho làng Tả Thanh Oai.

 

Biên tập: Bác sỹ Tưởng Văn Hoà.

Ngày 16 – 9 – 2011.