Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
Làng khoa bảng Tả Thanh Oai (tập 4/7)
Thứ tư, 28 Tháng 9 2011 09:10

Chương III

TIẾP NỐI TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC VÀ KHOA BẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI.

 

Trong hai cuộc chiến tranh:

Chống Pháp từ 1946 đến 1954, Tả Thanh Oai bị tàn phá nặng nề, nằm trong vùng tề, quân Pháp trực tiếp đóng quân trong làng, một nửa làng trên bị tàn phá, đình Tổ Thị, chùa Tổ Thị, văn chỉ bị đốt phá san phẳng, người dân ly tán, nhiều gia đình phải bỏ nhà đi ở nơi khác.

Chống Mỹ, làng bị không quân Mỹ oanh tạc, thả bom làm nhiều người chết ở làng.

Tả Thanh Oai qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi: làng Tả Thanh Oai hoặc thôn Tả Thanh Oai.

I. TỪ TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG ĐẾN TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG.  Sau hoà ước Quý Mùi (1883), rồi hoà ước (1885), đất nước ta bị chia làm 3 kỳ ( Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp. Giai đoạn này chữ Quốc ngữ, do các linh mục dòng tên người châu Âu vào Việt Nam truyền đạo đã chế tác ra chữ Quốc ngữ Việt Nam từ thế kỷ thứ XVII  năm 1651, nhưng phải đến năm 1772 mới khá hoàn chỉnh trong cuốn từ điển Việt-Bồ-La. Làm cho giao tiếp ngôn ngữ trở nên dễ dàng hơn so với các bộ chữ tượng hình như chữ Nôm, chữ Hán, dần dần thay thế chữ Nôm có từ thế kỷ thứ VI sau công nguyên và chữ Hán có từ thế kỷ thứ I trước công nguyên.

Nho Học thời Nhà Nguyễn: Sau đúng 20 năm kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi Vua, nhà Nguyễn lại tổ chức thi Nho học lấy Tiến sĩ. Kể cả, sau khi thực dân Pháp đặt được ách đô hộ lên đất nước ta, khoa cử Nho học vẫn được duy trì. Đến triều Vua Khải Định, chế độ khoa cử Nho học tồn tại gần 850 năm bị bãi bỏ với khoa thi Hương cuối cùng vào năm Mậu Ngọ (1918) và khoa thi Hội cuối cùng vào năm sau Kỷ Mùi (1919). Tính chung, từ Năm 1822 đến 1919, nhà Nguyễn đã tổ chức 39 khoa thi Hội, lấy đỗ 558 Tiến sĩ.

 Thời Nguyễn kinh đô chuyển vào Huế nên các kỳ thi Hội được tổ chức tại đây. Thăng Long và một số trấn ( từ 12-1931 trở đi là tỉnh) ngoài Bắc chỉ được tổ chức các kỳ thi Hương. Mất “địa lợi” người Thăng Long ít đỗ Đại khoa, chỉ có 41 người được trở về làng vinh quy bái Tổ ở 23 kỳ thi. Làng Tả Thanh Oai, tự hào có 1 cụ đỗ Tiến sĩ vào năm 1841 là cụ Ngô Điền lúc 27 tuổi, đỗ Hoàng Giáp khoa Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị. Cả thi Hội và thi Đình cụ đều đỗ thứ hai.

Sau khi người Pháp xâm chiếm thành công Đông Dương (trong đó có Việt Nam), Pháp đã chia Việt Nam ra làm 3 xứ riêng lẻ là Bắc Kì (dưới chế độ bảo hộ), Trung Kỳ (bảo hộ) và Nam Kì (dưới chế độ thuộc địa). Tiến hành bóc lột nhân dân thông qua hệ thống quan lại phong kiến. Dưới ách thống trị của chúng ngót một thế kỷ, nhân dân ta liên tiếp vùng dậy cầm vũ khí để giải phóng dân tộc, diễn ra rất nhiều cuộc khởi nghĩa trong đó có: 

Cụ  Nguyễn Văn Giáp (1837-1887), quê gốc ở Làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì-thành phố Hà Nội đỗ Cử nhân - khoa Giáp Tý, năm Tự Đức 1864, làm quan 19 năm, trải qua nhiều chức, cao nhất là bố chính tỉnh Sơn Tây, kiêm Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên. Khi Vua Hàm Nghi xuống “Chiếu Cần Vương”, Nguyễn Văn Giáp được cử làm Tuần Phủ Sơn Tây kiêm Tham tán Bắc Kỳ quân vụ, phong Hiệp Thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, cùng Nguyễn Quang Bích phối hợp kháng chiến toàn vùng. Khi Nguyễn Quang Bích lên đường đi sứ, Nguyễn Văn Giáp lĩnh trọng trách chỉ huy tối cao của phong trào Cần vương ở các tỉnh phía Bắc lúc bấy giờ. Ông mất tại Nghĩa Lộ-một căn cứ của nghĩa quân, vào ngày 25-9-1887 do bệnh nặng.

Tháng 9 năm 1940, quân Nhật xâm lược Việt Nam (Đông Dương). Hoảng sợ trước sức mạnh của Nhật, quân Pháp đã dâng Đông Dương cho bọn phát xít Nhật, từ đó nhân dân Tả Thanh Oai cũng như đồng bào cả nước bị “một cổ hai tròng”. Chính sách đàn áp, bóc lột của Nhật-Pháp, nhất là thu thóc tạ bắt nhổ lúa, mầu trồng đay đè nặng nên các tầng lớp nhân dân Tả Thanh Oai, làm cho đời sống nhân dân càng trở lên điêu đứng. Năm 1945, sau hai quả bom nguyên tử tại HiroshimaNagasaki, Nhật Bản đầu hàng khối Đồng Minh và chấm dứt thể chế đế quốc.

Nắm bắt thời cơ đó, mặt trận Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương phát động quần chúng trong cả nước, giành chính quyền, chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam.

Trong những người hoạt động cách mạng xa quê hương có ông Tưởng Dân Bảo sinh năm 1907, tại làng Tó, Tả Thanh Oai (trước thuộc huyện Thanh Oai, Hà Đông, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông thuộc đời thứ 19 con thứ năm của cụ Tưởng Văn Tự và bà Trịnh Thị Tiến ở Chi 2 ngành 2 nhánh 3 họ Tưởng. Hoạt động chống Pháp năm (1927) lúc 20 tuổi, ông bị bắt kết án tù 10 năm đầy ra Côn Đảo, năm 1936 sau khi ra tù ở Côn Đảo, ông tiếp tục hoạt động cách mạng chống Pháp trong hàng ngũ Đảng cộng sản Việt Nam. Ngày 23-9-1945 ở miền Nam, ông là người có công tổ chức đoàn đi đón 1800 đồng chí tù chính trị ở Côn Đảo về đất liền làm tiêu tan âm mưu thủ tiêu các đồng chí này của địch khi chúng tái chiếm Nam Bộ cùng ngày 23-9-1945. Cuối tháng 10.1945 ông được cử làm Bí thư tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Châu Đốc đồng thời là Cố vấn cho Hội Khơ Me cứu quốc. Khi Pháp tái chiếm lại Long Xuyên, Cần Thơ, Châu Đốc, ông Hoàng Quốc Việt trở về miền Bắc, ông Bảo đã tình nguyện ở lại Nam Bộ tiếp tục chiến đấu. Đầu năm 1946, ông được cử làm Thanh tra chính trị miền Tây Nam Bộ, bọn thực dân Pháp rất hoảng sợ ông và đã treo giải thưởng  lớn cho ai chỉ điểm và bắt được ông. Ngày 8-9- 1947 ông hy sinh ở chiến khu Đồng Tháp, được Bộ tư lệnh quân khu 7, Trung Tướng- Nguyễn Bình tổ chức an táng tại xã Bình Hoà Nam, tỉnh Long An. Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ngày 04 tháng 12 năm 1978  gia đình ông được Nhà Nước trao Bằng Tổ Quốc Ghi Công: Liệt sĩ Tưởng Dân Bảo, Bí thư tỉnh uỷ, mộ an táng ở xã Tân Duy, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh. Đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký. Ngày 29-10-1983, Ban tổ chức Thành uỷ, Bí thư thành uỷ Nguyễn Văn Linh (uỷ viên Trung ương Đảng) và gia đình đã đưa hài cốt đồng chí Bảo về an táng ở nghĩa trang liệt sỹ thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 6-11-2001,ông được Nhà Nước truy tặng huân chương Hồ Chí Minh, vì đã có nhiều công lao đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, do Chủ tịch Nước Trần Đức Lương ký.

Hoạt động ở làng có, năm 1937 ông Nguyễn Duy Oánh trở về Tả Thanh Oai hoạt động cách mạng. ông người Làng Tó làm thợ mộc ở Hà Nội giác ngộ CM từ năm 1935.

Năm 1939 có các ông: Ngô vi Thăng, ngô Vi Đẩu, Ngô Vi Kha, đã hoạt động trong phong trào công nhân về quê Tả Thanh Oai hoạt động cách mạng.

Năm 1941 ở Tả Thanh Oai, Thanh niên phản Đế đã tuyên truyền lập hội truyền bá quốc ngữ để hoạt động cách mạng. Ông Ngô Vi Đẩu được cử làm hội trưởng, 1943 Lập đội tự vệ cứu quốc, thôn Tả Thanh Oai gồm: Nguyễn Duy Oánh, Ngô Vi Thành, Ngô Vi Chi, Ngô Vi Sinh, Nguyễn Quang Tập, Nguyễn Tài Oanh, Nguyễn Tài Kình, Nguyễn Tài Thát, Nguyễn Duy Đệ, Nguyễn Văn Gia, Tưởng Văn Thanh, Tưởng Văn Thu, ông Dực, ông Định, cô Dần, Nghiêm Văn Đình, Nguyễn Duy Thư, Nguyễn Văn Lư.

 Ngày 16-8 Mặt trận Việt Minh làng Tả Thanh Oai đã tập họp quần chúng ở đình Tổ Thị tuyên bố tịch thu (Bằng, Triện), giải tán chính quyền theo Nhật, thành lập chính quyền cách mạng lâm thời do đồng chí Nguyễn Duy Oánh làm chủ tịch, đồng chí Ngô Vi Kha phó chủ tịch.

Trong một lần đi công tác, cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền Chủ tịch nước Việt Nam đã gặp gỡ thân mật với tự vệ khu Hoàng Văn Thụ và nhân dân Tả Thanh Oai ở đình Hoa Xá.      
 Cuối tháng 9, dân làng TTO, tập chung cơi cao bờ tả ngạn sông Nhuệ, vì đê sông Đáy ở Đông Lao (Hoài Đức) bị vỡ, lại nạn đói mới. Trong lúc đó, quân Tàu Tưởng đem theo bọn Việt Quốc, Việt Cách kéo vào Hà Nội, chúng âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân ở ngay trung tâm đầu não. Bọn phản động địa phương âm mưu ngóc đầu dậy chống phá cách mạng.                       

20-1 hàng chục thanh niên tham gia tuyển bộ đội ở tỉnh lỵ Hà Đông, một số đi Nam tiến. Trong tháng 1, các thôn tổ chức “Tuần lễ vàng” và “Tuần lễ đồng”, ông Tưởng Bích Mai nguyên dân biểu Bắc Kỳ nhân sĩ trí thức đại thương gia ngành vàng bạc ủng hộ 12 lạng vàng.

Tháng 3 bầu cử Uỷ ban hành chính xã, ở Tả Thanh Oai ông Tưởng Bích Mai làm Chủ tịch, kháng chiến bùng nổ, ông theo cách mạng lên chiến khu hoạt động.

Giai đoạn (9-1945-12-1946), ở Tả Thanh Oai dưới sự lãnh đạo của Đảng đã xây dựng củng cố chính quyền nhân dân, chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp. Đã làm được vận động cứu đói và phát động tăng gia sản xuất, tạm cấp ruộng cho người không có ruộng cầy cấy, bình dân học vụ xoá nạn mù chữ, tạo điều kiện cho nhân dân nội thành và vùng kế cận tản cư về làng do nửa cuối 1946 các cuộc đụng độ giữa tự vệ thành và giặc Pháp thường xuyên xẩy ra. thực hiện lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1947, Pháp chiếm đóng ở làng Tả Thanh Oai. Nhân dân thực hiện “Vườn không nhà trống, tiêu thổ kháng chiến”. Giặc Pháp dùng máy bay khu trục bắn phá làng, bộ binh có cả xe tăng yểm trợ càn quét, tàn phá các thôn: giết người, lùng bắt đàn ông, hà hiếp phụ nữ, cướp bóc lương thực thực phẩm. Đình Tổ Thị và chùa Tó đã bị giặc Pháp đốt phá, đốt cháy hầu hết nhà tranh, phá tan nát nửa làng trên làng Tó, bắn chết hàng chục người tại chỗ, bắt đi hàng chục người khác và dùng thủ đoạn “cướp sạch, phá sạch”. Tháng 10, chúng càn thôn Tả Thanh Oai, đốt phá chụi gần hết nửa làng từ đình Hoa Xá xuống chùa Bùi, ép các thôn phải lập tề. Nửa cuối năm, dân lác đác hồi cư, một số theo kháng chiến lên chiến khu Việt Bắc. Ở làng, chi bộ cử ông Nguyễn Tất Đạt là uỷ viên hội đồng cơ sở ra làm Lý trưởng Tả Thanh Oai, khi bị lộ đã bố trí cho ông Lý Đạt ra vùng tự do.                                                                                         
(10-1948-7-1954) kiên cường kháng chiến trong lòng địch, tiến lên giải phóng quê hương.
 1948 thành lập xã Tả Hoà gồm Tả Thanh Oai, Phúc Hoà, siêu Quần. xã Tả Thanh Oai là thôn Tả Thanh Oai của xã Tả Hoà. Huyện Thanh Trì và huyện Thanh Oai sát nhập thành huyện Liên Nam. Đảng viên lưu vong trở về làng bị tạm chiếm, bám đất, bám dân, phục hồi cơ sở. Ở thôn Tả Thanh Oai có 5 đồng chí: Ngô Bảo, Tưởng Văn Thanh, Nguyễn Quang Du, Nguyễn Duy Đệ, Ngô Đình Chí và huyện cử về một đảng viên là Phạm Văn Lãng. Hoạt động tổ chức đánh địch đi tuần qua làng, diệt địch cướp vũ khí của địch. Trận phục kích đánh địch ở gần cầu Tó: ông Phạm Văn Lãm (bí thư xã) bàn với chỉ huy du kích thôn Tả Thanh Oai là Ngô Bảo, Ngô Đình Chí, Tưởng Văn Thanh tổ chức đánh địch đi tuần qua làng. 8 giờ sáng ngày 12-2-1949, du kích thôn Tả Thanh Oai được bộ đội huyện hỗ trợ phục kích đánh một toán 15 tên địch đi tuần trên bờ sông Nhuệ gần cầu Tó. Lực lượng ta có một tổ bộ đội huyện và 12 du kích do đồng chí Ngô Bảo chỉ huy gồm: Ngô Bảo, Trần Thìn, Hoàng Bá Đằng, Nguyễn Huy Kỷ, Nguyễn Hữu Tỵ, Nguyễn Văn Hội, Nguyễn Huy Lợi, Nguyễn Du Mùi, Nguyễn Quang Đính, Nguyễn Quang Dị, Nguyễn Văn Viết …... Trận đánh diễn ra khoảng 10 phút, ta an toàn, diệt 8 tên địch, thu 3 súng trường 1 trung liên, sau đó thu vũ khí cất giấu trong làng rồi nhanh chóng rút quân.

 Các hoạt động quân sự của du kích xã đã làm cho bọn địch ở bốt khúc Thuỷ hoang mang và bọn chỉ điểm lo ngại, không dám lùng sục táo tợn ban đêm như trước, nhưng ban ngày chúng tăng cường tìm phá phong trào kháng chiến.

Một số du kích bị bắt, tra tấn, rồi bị bắn (như bà Đào Thị Nhật, ông Lê Bỉnh Khiêm, Ngô Đình Chí, Nguyễn Quang Du, Ngô Vi Đớp, Nguyễn Văn Còm).

Đầu năm 1951, địch đuổi dân nửa làng trên Tả Thanh Oai từ sông máng Minh Lâu đến cầu Tó, đưa bọn lính ứng chiến GMI, toàn Âu Phi về đóng bốt. Chúng san ủi, phá nhiều nhà dân làm bãi pháo, rải dây thép gai nhiều tầng tại nơi đóng quân, lực lựng khoảng 500 tên do quan Tư chỉ huy. Dân nửa làng trên dồn xuống ở nhờ nửa làng dưới. Bà con đã đùm bọc nhau và đấu tranh chống địch càn quét bảo vệ phong trào kháng chiến.

Đêm 8-1-1953, bộ đội tỉnh được du kích xã dẫn đường đã tập kích bốt Tó tiêu diệt và bắt sống hơn 50 tên địch, đốt cháy hơn 10 nghìn lít xăng, thu nhiều vũ khí đạn dược. Bộ đội rút lui an toàn, chỉ có ông Nguyễn Chí Thân du kích xã dẫn đường bị thương được chuyển xuống điều trị ở Đan Nhiễm.

Tháng 2-1953, đồng chí Đán chính trị viên xã đội và đồng chí Thư cán bộ huyện về công tác, được cụ từ Thuyên đình Hoa Xá che dấu, bắn tên do thám ngã gục ngoài cổng đình. Bọn địch tràn đến, chúng đã tra tấn cụ Thuyên rất dã man nhưng cụ không khai. Bọn địch đã cướp đi 3 cót thóc thuế nông nghiệp của ta để trong đình.

Năm 1954, nhân dân làng Tả Thanh Oai hân hoan đón ngày hoà bình đầu tiên trên mảnh đất quê hương do tự mình chống giặc giữ gìn. Cán bộ, đảng viên trụ lại tiếp tục quản lý quê hương.     

Giải phóng thủ đô, đại đa số cán bộ, chiến sĩ người làng Tả Thanh Oai lên chiến khu kháng chiến, được phân công công tác và phân nhà ở trong thành phố như các ông: Ngô Vi Kha, Ngô Xuân Thiêm, Nguyễn Thanh Sơn, Tưởng Bích Trúc, Tưởng Bích Thọ, Tưởng Ngân Bình.v.v.. các gia đình tản cư ra Hà Nội trong kháng chiến vẫn còn nhà cửa đất đai của tổ tiên ở Tả Thanh Oai, đã có công ăn việc làm ở nội thành cũng vẫn ở hai nơi (quê và thành phố).

1954-1957 Khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, hoàn thành cải cách ruộng đất. Hoà bình lập lại, nhân dân làng Tả Thanh Oai phấn khởi xây dựng cuộc sống mới trên quê hương. Sau chiến tranh: các công trình thuỷ lợi bị tàn phá, ruộng đất bị bỏ hoang, năng suất lúa thấp. Đời sống nhân dân thiếu đói, tái mù chữ, dịch bệnh hoành hoành. Đời sống thấp kém. Địch dụ dỗ cưỡng ép dân di cư vào Nam.

Dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ, tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng nhanh chóng được củng cố kiện toàn: Hội phụ nữ, thanh niên, phụ lão, nông hội được củng cố lại đều dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Bà con đoàn kết giúp đỡ nhau, xác định ranh giới của một số gia đình mà địch đã san phẳng để dựng lại nhà cửa, tháo dỡ mìn, hệ thống dây thép gai; khai hoang, phục hoá, trồng rau ngắn ngày, ruộng tư điền chiếm 70%, còn lại là ruộng của đình, chùa, họ hàng, phe giáp và ruộng do chính quyền thôn quản lý. Trong đó chỉ có trên 50% diện tích cấy dược lúa chiêm. Chính quyền tạm thời thu phần lớn diện tích công điền giao cho nông dân nghèo không có ruộng hoặc có rất ít ruộng đất để sản xuất.

1955 Tách huyện, xã Đại Thanh thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông; Và nhà nước cho đào con sông Hoà Bình, dài 4km xuyên qua nhiều cánh đồng trong xã. Nhân dân đã đóng góp hàng vạn ngày công đào đắp công trình này.

Bác Tôn Đức Thắng, Chủ tịch mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã gửi tặng xã Đại Thanh ba bộ quần áo vải nâu.

Tháng 3-1956, tiến hành cải các ruộng đất cho “Người cầy có ruộng”, Đảng, Nhà nước phát động quần chúng đứng lên đấu tranh xoá bỏ ách áp bức bóc lột của địa chủ phong kiến.

Đến năm 1960, làng Tả Thanh Oai đóng góp cho xã Đại Thanh xây dựng lực lượng dân quân và công an gồm những thanh niên nam nữ nhiệt tình, khoẻ mạnh, nhiệm vụ là: 1-Phải bảo vệ an toàn tuyệt đối Đảng, chính quyền cũng như tính mệnh, tài sản của nhân dân; 2-Phải là lực lượng xung kích trên mặt trận sản xuất, chống bão lụt bão, làm thuỷ lợi, gương mẫu đi đầu trong phong trào văn hoá, giáo dục, xã hội cũng như các phong trào khác do cấp trên phát động; 3-Là lực lượng cơ động sẵn sàng nhận nhiệm vụ do cấp trên yêu cầu; giúp công an huyện lập hồ sơ các đối tượng: tay sai phản cách mạng, trước làm việc đắc lực cho địch, người giầu không đóng thuế, sĩ quan nguỵ tập chung đưa đi cải tạo, trình diện trước chính quyền. Thu hồi vũ khí, quân trang của địch mà một số người còn giữ.

Đối với cưới xin, theo nếp sống mới, chi đoàn chịu trách nhiệm tổ chức chỉ có chè, thuốc lá, trầu cau, văn nghệ ca hát.

Trường phổ thông cấp I Đại Thanh chính thức được thành lập gồm các lớp từ lớp 1 đến lớp 4. Phong trào bình dân học vụ, tuyệt đại đa số người dân trước kia không biết chữ, sau một thời gian đã biết đọc, biết viết; một số người còn biết làm phép tính cộng, trừ, nhân, chia.

Ban y tế xã được thành lập với nhiệm vụ khám chữa bệnh ban đầu và đỡ đẻ; đồng thời tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện vệ sinh phòng bệnh.

Phát triển phong trào văn hoá , văn nghệ quần chúng “tự biên tự diễn”.

Từ năm 1957, thực hiện chủ trương của Đảng, Tả Thanh Oai đã vận động nông dân vào tổ đổi công, có bình công chấm điểm.

Năm 1958, hạn hán diễn ra trầm trọng, Đảng, chính quyền phát động nông dân khơi sâu mương máng lấy nước sông Nhuệ vào đồng, tát nước bằng phương tiện: gàu sòng, gàu giai, guồng đạp chân đưa nước vào đồng với khẩu hiệu “vắt đất ra nước thay trời làm mưa”. Thôn Tả Thanh Oai diện tích bị hạn nặng vào 50 mẫu Bắc bộ ở cánh đồng Quai Chảo. Giữa lúc nhân dân và bộ đội về giúp dân chống hạn, một vinh dự lớn lao với nhân dân địa phương, vào buổi sáng ngày 23 tháng Chạp năm Đinh Dậu, tức ngày 12-1-1958, đã được Bác Hồ về thăm. Bác cùng đồng chí Vũ Quý tát nước, trong tư thế vững trãi của người tát nước gầu giai, Bác thả gầu, múc nước, đổ nước thần thục như một lão nông.

đến năm 1960, làng Tả Thanh Oai đã hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp bậc thấp với 90 % số hộ nông dân và khoảng 85% diện tích đất canh tác được tập thể hoá trong hợp tác xã. Phát huy kết quả đạt được, cuối năm 1960 Đại Thanh đã tổ chức cho nhân dân học tập thể thí điểm xây dựng HTXNN bậc cao.

Công tác văn hoá, giáo dục cũng đạt được thành tích bước đầu. Phong trào bình dân học vụ tiếp tục phát triển mạnh, đến năm 1958 căn bản thanh toán nạn mù chữ cho nhân dân, học sinh phổ thông tăng nhanh. Tháng 9-1960 trường cấp 2 của xã được thành lập, ngay trong năm đầu thành lập trường cấp 2 Đại Thanh đã đạt danh hiệu “trường tiên tiến” của tỉnh Hà Đông.

Ngày 31-5-1961, thủ tướng chính phủ ra quyết định mở rộng ngoại thành Hà Nội và chia lại tổ chức hành chính của thành phố; huyện Thanh Trì thuộc Hà Nội được thành lập trên cơ sở sát nhập 10 xã của quận VII (HÀ NỘI) và 11 xã, một thị trấn của huyện Thanh Trì (Hà Đông) lúc này làng Tả Thanh Oai cùng xã Đại Thanh tách khỏi huyện Thanh Trì, sát nhập vào huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông.

Chi bộ đảng đã chỉ đạo HTX thôn Tả Thanh Oai mạnh dạn cấy lúa xuân đầu tiên ở miền Bắc (cấy ở cánh đồng cây Gối) lúa Lam Linh và Ba Chăn (cấy ở cánh đồng La Khảo) do thực hiện đúng quy trình kỹ thuật nên ba loại giống lúa này đều đạt năng xuất cao.

Các đồng chí lãnh đạo các cấp đều đánh giá thắng lợi này có ý nghĩa lớn để nhân ra diện tích ở nhiều tỉnh trên miền Bắc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm đã biểu dương kết quả này. Năm 1961 nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng ba cho HTX nông nghiệp thôn Tả Thanh Oai.

 Vừa sản xuất, vừa chiến đấu, góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (1965-1975). Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, thanh niên trong thôn sôi nổi tình nguyện “Ba sẵn sàng”. Nhiều thanh niên đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ đâu khi Tổ quốc cần. Chị em phụ nữ hăng hái đăng ký “Ba đảm đang”, phấn đấu giỏi việc nhân dân, đảm việc nhà.

Ở làng Tả Thanh Oai, trong giai đoạn 1968-1972. Cùng với nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, Đảng bộ và nhân dân đã cổ vũ động viên con em mình lên đường chiến đấu. Phong trào tòng quân giết giặc rất sôi nổi. Nhiều lá đơn nhập ngũ được viết bằng máu. Trong những năm 1966-1971, năm nào làng Tả Thanh Oai cũng hoàn thành nghĩa vụ tuyển quân. Tuyệt đại đa số anh em giữ trọn lời thề trước khi lên đường: “Không thắng giặc Mỹ không về quê hương”. Các đồng chí có mặt ở khắp các chiến trường. Nhiều đồng chí lập công xuất sắc.

Liệt sĩ đầu tiên xã tổ chức lễ truy điệu tại thôn Tả Thanh Oai là đồng chí Nguyễn Văn Sinh (con trai cụ Nguyễn Văn Hậu), phi công lái máy bay Mích 17. Đồng chí đã chiến đấu trên bầu trời khu 4 và một số nơi khác, đã cùng đồng đội hạ nhiều máy bay Mỹ. Trận chiến đấu trên bầu trời khu 4, tên lửa Mỹ bắn trúng đuôi máy bay của đồng chí. Đồng chí đã anh dũng hy sinh. Có những đồng chí hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ như: Lê Văn Hồng, Ngô Vi Chuông, Trần Văn Lứa, Nguyễn Đức Cường. Có những đồng chí đang là chủ nhiệm HTX, các con còn nhỏ vẫn xung phong lên đường về sau cũng hy sinh anh dũng như đồng chí Nguyễn Đức Niệm thôn Tả Thanh Oai.

Nhìn lại chặng đường 20 năm xây dựng CNXH và kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng trực tiếp là Huyện uỷ Thanh Trì sau là Huyện uỷ Thường tín, Đảng bộ và nhân dân xã Tả Thanh Oai đã vượt qua khó khăn nêu cao chủ nghĩa anh hùng đoàn kết 1 lòng hoàn thành nhiệm vụ khôi phục cải tạo và phát triển kinh tế văn hoá xã hội, vừa sản xuất vừa chiến đấu góp phần đánh thắng 2 cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chi viện sức người sức của cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xã Tả Thanh Oai được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng 3.

Tả Thanh Oai cùng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới (1975-2000). Tưng bừng tháo gỡ khó khăn khôi phục và phát triển kinh tế xã hội (1976-1986).

Bước vào giai đoạn cách mạng mới, Tả Thanh Oai có những thuận lợi rất cơ bản. Đó là tinh thần phấn khởi của toàn dân khi đất nước đã hoà bình thống nhất, là niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, là thành quả kinh nghiệm của  những năm xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, là lực lượng lao động được tăng cường gồm nhiều đảng viên, bộ đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở chiến trường trở về.

Tuy nhiên, khó khăn còn rất lớn. Hậu quả chiến tranh còn nặng nề, chiến tranh không chỉ tàn phá cơ sở vật chất, nhà cửa, ruộng vườn mà còn làm đảo lộn các nếp sống, quản lý, bên cạnh đó thiên tai thời tiết rét đậm, sương muối, sâu bệnh…..đã tác động không nhỏ đến sản xuất.

Với khẩu hiệu “tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân”, đảng bộ và nhân dân xã Tả Thanh Oai phấn khởi và tin tưởng, ra sức thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV.

Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Thủ đô Hà Nội, đến nay là 34 năm (1976 – 2010).

Tháng 12 năm 1976, tại Hà Nội diễn ra Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng. Đại hội đề ra đường lối chính trị, đường lối kinh tế, phương hướng kế hoạch 5 năm (1976-1980) và quyết định đổi tên Đảng thành: Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội khoá IV và thành công của đại hội Đảng lần thứ IV đã tạo động lực tinh thần để đảng bộ và nhân dân Tả Thanh Oai vượt qua khó khăn giành thắng lợi.

Hoà bình chưa được bao lâu thì đất nước lại trong tình trạng vừa có hoà bình vừa có chiến tranh, tập đoàn Pon Pốt -Iêng Xa Ri đã gây ra chiến tranh biên giới Tây Nam (1977). Năm 1978, các thế lực thù địch gây căng thẳng ở biên giới phía bắc; thực hiện chủ trương của cấp trên, đảng uỷ uỷ ban nhân dân xã Tả Thanh Oai triển khai công tác quân sự địa phương trong tình hình mới, đẩy mạnh xây dựng lực lượng dân quân du kích, huấn luyện kết hợp với sản xuất. Công tác tuần tra canh gác, giữ gìn trật tự an ninh được tăng cường, luật nghĩa vụ quân sự và chính sách hậu phương quân đội của Đảng, nhà nước được tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong nhân dân.                     

 Ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân dân cả nước bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc
 
Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng và lệnh tổng động viên của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nhiều thanh niên xã Tả Thanh Oai lại xung phong lên đường nhập ngũ, trong đó có những thanh niên chưa đến tuổi vẫn tình nguyện tham gia. Anh Nguyễn Văn Quyết mới 17 tuổi đã tình nguyện đi chiến đấu và anh dũng hi sinh ở biên giới phía Bắc. Các tổ chức đoàn thể tích cực vận động hội viên và nhân dân ủng hộ đồng bào biên giới.  

 Năm 1979, xã Tả Thanh Oai được cắt khỏi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây sát nhập về huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, việc sát nhập vào Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho xã xây dựng và phát triển mọi mặt hoà nhịp bước tiến của huyện Thanh Trì và thủ đô Hà Nội.

Qua 10 năm phấn đấu thực hiện nhiệm vụ (1976-1985) Đảng bộ và nhân dân xã Tả Thanh Oai đã trải qua bao khó khăn thiếu thốn, trong bối cảnh kinh tế đất nước có suy giảm, kẻ thù nhiều âm mưu phá hoại, thiên tai liên tiếp sảy ra, nhận thức tư tưởng chưa thật ổn định, cơ chế tập chung quan liêu bao cấp kìm hãm nặng nề, được sự lãnh đạo của Thành uỷ huyện Thanh Trì có nghị quyết của Đảng soi sáng, sự chỉ đạo của Đảng bộ chính quyền và nỗ lực cố gắng của nhân dân, các mặt hoạt động của xã vẫn ổn định, công tác tổ chức của Đảng ngày càng được củng cố, đảng viên gương mẫu đã đóng góp thành tích cũng như yếu kém, khuyết điểm còn vấp phải đã để lại những kinh nghiệm quý giúp Đảng bộ và nhân dân Tả Thanh Oai vượt qua khó khăn để cùng thủ đô bước vào thời kỳ đổi mới.

Tả Thanh Oai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986-2000).

Năm 1986 diễn ra sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của toàn Đảng, toàn dân ta, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới tư duy kinh tế nhằm đổi mới toàn diện đất nước trước hết là đổi mới tư duy kinh tế nhằm ổn định kinh tế xã hội. Đại hội đã mở ra thời kì phát triển mới cho cách mạng Việt Nam, cho công cuộc xây dựng Thủ đô, huyện Thanh Trì và quê hương Tả Thanh Oai.

Nhìn lại chặng đường 14 năm (1986-2000) thực hiện đường lối đổi mới của đảng, Đảng bộ và nhân dân Tả Thanh Oai đã phát huy truyền thống đoàn kết, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, vận dụng sáng tạo nghị quyết của cấp trên vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương, đưa Tả Thanh Oai ngày càng đi lên, kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống được tăng cường. Hệ thống đường giao thông nông thôn, thuỷ lợi được nâng cấp, sự nghiệp giáo dục, y tế phát triển. Bộ mặt quê hương ngày càng thay da đổi thịt. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên, an ninh chính trị ngày càng được củng cố. Các đoàn thể quần chúng trong xã như: Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh hoạt động tích cực góp phần phát triển kinh tế ở địa phương.

Những kết quả trong những năm đổi mới, mới chỉ là bước đầu, nhưng đó là cơ sở vững chắc để Đảng bộ và nhân dân Tả Thanh Oai đủ khả năng vươn lên thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

Riêng về giáo dục có trong địa bàn làng:

Trường phổ thông trung học Ngô Thì Nhậm, trường trung cấp kinh tế đóng trên địa bàn của làng là nguồn thúc đẩy dân trí của con em trong làng, có điều kiện học hỏi, phấn đấu cho bằng anh bằng em. sức học của con em trong làng được hỗ trợ, không phải ở trọ đi học như các nơi khác.

Hệ thống giáo dục ở làng đầy đủ từ mẫu giáo nhà trẻ đến trung học đều có. Trường mẫu giáo, nhà trẻ ở đường Minh Lâu, khang trang, có đến 6 lớp cho các lứa tuổi, 2-3 tuổi, 3-4 tuổi, 4-5 tuổi. Trường tiểu học cơ sở: khối từ lớp 1 đến lớp 5, khối từ lớp 6 đến lớp 9, xây ở cuối làng, tại thôn Nhân Hoà. Trường phổ thông trung học Ngô Thì Nhậm gồm lớp 10, 11, 12 ở đầu làng, từ năm 1994 đến năm 2010, hệ thống giáo dục ở làng đã được xây dựng lại toàn bộ theo chuẩn quốc gia từ trường trung học cơ sở, trường tiểu học đến cả trường mẫu giáo, nhà trẻ.

NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TẶNG NHÂN DÂN XÃ TẢ THANH OAI VÀ THÔN TẢ THANH OAI

1. Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng ba cho xã Đại Thanh về thành tích sản xuất vụ mùa năm 1958.

                                     (QĐ 104/TTg ngày 9-3-1959)

2. Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng ba cho hợp tác xã Phấn Đấu (thôn Tả Thanh Oai) về thành tích sản xuất năm 1959.

                                       (QĐ 83/TTg ngày 30-3-1960)

3. Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng ba cho hợp tác xã nông nghiệp Thôn Tả thanh Oai về thành tích sản xuất năm 1961.

                                        (QĐ 16/CTN ngày 3-5-1963)

  1. Chính phủ tặng Huân chương Kháng chiến hạng ba cho xã Đại Thanh về thành tích những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
  2. Quân khu 3 tặng bằng khen dân quân du kích chiến đấu góp phần bắn rơi máy bay Mỹ.
  3. Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho xã Tả Thanh Oai vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Pháp.

                             (QĐ 202-KT/CTN ngày 11-6-1999)

DANH SÁCH CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG BỊ ĐỊCH CẦM TÙ ĐÃ ĐƯỢC TẶNG HUÂN CHƯƠNG HỒ CHÍ MINH.

1. Tưởng Dân Bảo  sinh năm 1907   Liệt sĩ năm 1947       nhà tù Côn Đảo.

DANH SÁCH CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG BỊ ĐỊCH CẦM TÙ ĐÃ ĐƯỢC TẶNG KỶ NIỆM CHƯƠNG.

Stt             Họ và Tên               Năm sinh                  Địch giam ở nhà tù.

1.Ngô Vi Đẩu                           1912                                Hoả Lò

2.Ngô Vi Kha                           1917                               Hoả Lò

3.Nguyễn Duy Oánh                1913                               Hoả Lò

4.Lê Văn Đán                           1929                               Hà Đông

5.Nguyễn Văn Đính                 1931                               Hà Đông

6.Nguyễn Văn Nết                   1932                               Hà Đông

7.Nguyễn Vĩnh Trọng              1930                               Nhà Tiền

8.Nguyễn Xuân Hiếu               1928                               Nhà Tiền

9.Nguyễn Hải Học                  1931                               Nhà Tiền

10.Nguyễn Văn Hà                  1931                               Nhà Tiền

11.Hoàng Huy Liệu                1922                               Phú Quốc

12.Nguyễn Văn Sinh               1928                               Phú Quốc

13.Nguyễn Văn Nhân              1932                               Phú Quốc

14.Nguyễn Văn Chung            1936                               Phú Quốc

15.Bùi Minh Đức                     1937                               Phú Quốc

16.Đặng Đình Sửu                  1944                               Phú Quốc

17.Nguyễn Văn An                  1946                               Phú Quốc

DANH SÁCH CÁN BỘ HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TRƯỚC NĂM 1946.

  1. Nguyễn Duy Oánh.
  2. Ngô Vi Thăng.
  3. Ngô Vi Đẩu
  4. Ngô Vi Kha.
  5. Nghiêm Văn Đình.
  6. Nghiêm Bỉnh Hồ.     
  7. Nguyễn Chí Bàn.

DANH SÁCH CƠ SỞ CÁCH MẠNG

Đã được công nhận có công với cách mạng

  1. Nguyễn Thị Sâm                    Thôn Tả Thanh Oai
  2. Nguyễn Thị Quyên                 Thôn Tả Thanh Oai
  3. Nguyễn Thị Giếng                  Thôn Tả Thanh Oai
  4. Lưu Văn Tiệp                         Thôn Tả Thanh Oai
  5. Nguyễn Thị Như                     Thôn Tả Thanh Oai

DANH SÁCH CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN

    Stt            họ và tên                          địa chỉ                                      

 1.   Nguyễn Vĩnh Triệu                Tả Thanh Oai

 2.  Lê Quang Năm                        Tả Thanh Oai

 3.  Nguyễn Đức Lương                 Tả Thanh Oai

 4.  Triệu Toàn Phong                    Tả Thanh Oai

 5.  Ngô Khánh Thọ                       Tả Thanh Oai

 6.  Nguyễn Bá Can                        Tả Thanh Oai

                    Các Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng 

Số tt    họ tên           năm sinh        địa chỉ                        ghi chú              

1. Nguyễn Thị Kén     1910       Tả Thanh Oai      một con duy nhất là liệt sĩ 

2. Tưởng Thị Lợi        1914       Tả Thanh Oai      một con duy nhất là liệt sĩ

3. Ngô Thị Nhường    1906       Tả Thanh Oai       có 3 con là liệt sĩ

Trong sự nghiệp trồng người ở làng Tả Thanh Oai, có rất nhiều thầy cô giáo người làng góp sức như:

DANH SÁCH CÁC CỤ ĐỒ NHO, THẦY GIÁO LÃO THÀNH TRƯỚC SAU NĂM 1954 ĐÃ GẮN LIỀN VỚI TRUYỀN THỐNG LÀNG KHOA BẢNG.

I, Danh sách các cụ đồ nho:

     1 – cụ Ngô Vi Thuý.

     2 – cụ Ngô Vi Thuỵ

     3 – cụ Ngô Đình Tỵ.

     4 – cụ Đào Văn Chắt.

     5 – cụ Nguyễn Văn Tự.

     6 – cụ Nguyễn Văn Vượng.

     7 – cụ Nguyễn Văn Ba.

II, Danh sách các thầy giáo lão thành trước và sau năm 1954.

     1 – thầy Nguyễn Văn Cư.

     2 – thầy Nguyễn Văn Lục.

     3 – thầy Ngô Vi Dục.

     4 – thầy Nghiêm Đình Di.

     5 – thầy Nguyễn Huy Phong.

     6 – thầy Nguyễn Tá Nguyên.

Ngày nay thôn Tả Thanh Oai trực thuộc xã Tả Thanh Oai là xã ngoại thành đất ruộng nông nghiệp còn nên quản lý theo mô hình hợp tác xã là chủ yếu. Chính quyền gồm: chi bộ Đảng của thôn, trưởng thôn và phó thôn, hợp tác xã nông nghiệp thôn, các tổ dịch vụ điện, nước..v.v..Chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của Đảng uỷ xã, chính quyền xã Tả Thanh Oai qua các thời kỳ như sau:

BÍ THƯ (CHI-ĐẢNG) BỘ XÃ

từ năm 1949-2010

    stt               họ và tên                  từ năm       đến năm

  1. Phạm Văn Lãm           1949           1950
  2. Lê Đình Thuyết           1951           1952
  3. Ngô Bảo                      1952           1953
  4. Ngô Vi Thăng             1955           1956
  5. Nguyễn Thị Dò        2/1956        9/1956
  6. Ngô Vi Thăng        10/1956        7/1958
  7. Nguyễn Xuân Hiếu  8/1958      12/1960
  8. Nguyễn Bỉnh Hách   6/1961        5/1965
  9. Lê Vinh Tát              6/1965      12/1967
  10. Nguyễn Tràng Đa     1/1968        8/1971
  11. Ngô Mạnh Quyền     9/1971        8/1974
  12. Ngô Vi Toàn            9/1974         4/1980
  13. Ngô Mạnh Quyền     5/1980       10/1981
  14. Phan Văn Tách        11/1981      12/1984
  15. Ngô Mạnh Quyền      1/1985      12/1990
  16. Ngô Văn Trác            1/1991        9/2001
  17. Nguyễn Tiến Hưng   9/2000         4/2004
    18.   Nguyễn Đức Thắng   4/2010       đến nay

CHỦ TỊCH UỶ BAN XÃ

từ năm 1949-2010

    stt     họ và tên                          từ năm       đến năm

     1.    Lê Bỉnh Khiêm                 1949           1950

     2.    Lê Đình Thuyết                 1951          1952

     3.    Ngô Bảo                            1952           1053

     4.    Ngô Đình Quyên            7/1953        1/1956

     5.    Nguyễn Thị Mẽn            1/1956      10/1956

     6.    Ngô Đình Quyên          11/1956      11/1959

     7.    Nguyễn Văn Thiện       12/1959        6/1963

     8.    Ngô Vi Toàn                   7/1963        7/1965

     9.    Trần Văn Bính                8/1965        1/1967

   10.    Ngô Vi Kim                    2/1967      12/1971

   11.    Phan Văn Tách               1/1972        6/1973

   12.   Đỗ Trọng Quý                 7/1973        6/1977

   13.   Lưu Xuân Long               7/1977        7/1979

   14.   Phan Văn Tách                8/1979        8/1980

   15.   Ngô Mạnh Quyền            1/1981      12/1983

   16.   Đỗ Trọng Thực                1/1984      10/1993

   17.   Lê Xuân Cảnh                11/1993        8/1998

   18.   Phạm Ngọc Hoà               9/1998        4/2004

   19.   Nguyễn Đức Thắng          5/2004        4/2010

   20.   Nguyễn Tiến Hưng           4/2010      đến nay 

BÍ THƯ THÔN: hiện tại Ngô Xuân Thắng.

TRƯỞNG THÔN: hiện tại Trần Nam Hùng.    

 Các tổ chức tập thể có quyền lợi nghĩa vụ điều lệ riêng. 

  Đảng cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội thiếu niên tiền phong: là những tổ chức chính thống từ trung ương trở xuống có tôn chỉ, điều lệ rõ ràng.

Mặt trận tổ quốc:

 Hội nông dân tập thể Việt Nam: Đầu năm 1988 đổi thành hội nông dân Việt Nam, đã tuyên truyền khoa học kỹ thuật áp dụng giống mới vào trồng trọt, chăn nuôi, đẩy mạnh sản xuất, thu hẹp hộ nghèo.

   Hội phụ nữ: triển khai rộng phong trào xây dựng người phụ nữ mới, mẹ đảm con ngoan, giúp nhau làm kinh tế gia đình

HỘI CỰU CHIẾN BINH: thành lập năm 2001, giúp nhau làm kinh tế, giữ gìn trật tự trị an, thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Các sĩ quan tham gia Hội cựu chiến binh làng Tả Thanh Oai:

 Đội I.

TT       Họ Tên                năm sinh       nhập ngũ         xuất ngũ              cấp bậc

 1    Đào Trọng Diệp           1922              03/1945            01/1982               Đại tá.

 2    Vũ Mạnh Hân              1926               12/1949           10/1980               Đại tá.

 3    Trần Văn Thi               1928               10/1946           11/1987               Trung tá.

 4    Nguyễn Văn Thiệp      1932               03/1959                1968               Thượng uý.

 5    Ngô Vi Khởi                1941               04/1963               1986                 Đại uý.

 6     Nguyễn Trọng Lục     1947                    1966                1989                Thiếu tá.

 7     Ngô Đình Giác           1937                    1959                1991                Trung uý.

 8     Phạm Trọng Thức      1922                06/1950            6/1982                 Trung Tá.

 9   Nguyễn Xuân Trường  1947                     1967            10/1991               Trung tá.

 10  Đào Xuân Quý            1947                     1965                 1981               Thượng uý.

 11   Ngô Như Tú               1956                 03/1975            06/1990              Đại uý.

 12   Vũ Văn Lịch              1950                 04/1970                 1991               Đại uý.

 13  Nguyễn Đức Toàn      1958                  08/1976                1989               Đại uý.

 14  Triệu Toàn Phong       1933                      1947                 1989              Thiếu uý.

 15  Đàm Sỹ Quý               1945                  04/1965                1977               Thiếu uý.

 16  Lê Văn Lương            1928                  02/1950             04/1971             Trung uý.

 17  Trần Đức Chẩn           1940                  05/1958             12/1990             Đại uý.

 18  Ngô Ngọc Hồng          1952                  01/1973             12/1985            Thượng uý.

 19  Lê Trung Dũng           1958                  08/1976              07/2009            Thượng tá.

 Đội II.

 1    Trần Đăng Hái            1947                 05/1965               12/1986             Đại uý.

 2    Ngô Như Quyền         1936                  07/1968               06/1983            Trung uý.

 3    Bùi Sơn Đông             1950                 04/1968               10/1990             Trung tá.

 4    Nguyễn Minh Quốc    1948                 04/1966               04/1982             Thiếu uý.

 5    Ngô Vi Tin                  1949                 06/1968               10/1988             Đại uý.

 6    Nguyễn Xuân Hồng    1940                 02/1964               10/1982             Trung uý.

 7    Trần Mạnh Hùng        1946                 02/1965                01/1976            Thượng uý.

 8    Nguyễn Huy Thịnh     1953                01/1973                 11/1987            Thượng uý.

 9    Tưởng Văn Hoà          1952                09/1972                 04/1985            Thượng uý.

 10  Nguyễn Mạnh Điềm   1949                01/1966                 01/2006             Thiếu uý.

 11  Phan Anh Ngọ            1944                02/1063                 09/1994             Thượng uý.

 12  Ngô ngọc Lưu             1954                05/1972                 11/1981             Chuẩn uý.

 Đội III.

 1    Hoàng Trung               1940                07/1962                                             Thiếu uý.

 2    Nguyễn Thanh Sơn     1926                08/1945                  03/1972              Thượng Tá.

 3    Đào Văn Tân               1961               10/1980                  10/1988               Trung uý.

 4    Nguyễn Vĩnh Triệu     1923               03/1949                    03/1972              Thiếu uý.

 5    Nguyễn Bá Lợi           1956               05/1977                    12/2006              Thiếu tá.

 6    Ngô Vi Tùng              1953               02/1975                    10/1981               Thiếu uý.

 Đội IV.

 1    Lưu Đình Tu               1946              02/1965                     03/1991               Thiếu tá.

 2    Nguyễn Đăng Đức      1945              03/1963                     09/1991               Thiếu tá.

 3    Nguyễn Hồng Anh      1957              08/1976                     12/1989               Trung uý.

 4    Nguyễn Văn Mão        1951              08/1969                     04/1991               Thiếu tá.

 5    Vũ Văn Quyết             1958              08/1976                     09/1999                Đại uý.

 6    Nguyễn Văn Chung    1954              04/1974                     12/1981                Chuẩn uý.

 7    Nguyễn Hồng Khanh  1948              07/1968                     12/1993                Trung tá. 
II. PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC CỦA CHA ÔNG.

Sĩ: Tiếp nối truyền thống hiếu học của tổ tiên, Tả Thanh Oai ngày nay các vị có bằng cấp, học vị: giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, bác sỹ, cử nhân luật, du lịch. Trung cấp: y tá, dược tá, kế toán, giáo viên, luật .v.v.. như sau:

1 -GIÁO SƯ, TIẾN SĨ, THẠC SĨ, CỬ NHÂN LÀNG TẢ THANH OAI GỒM 384 VỊ.

GIÁO SƯ có 7 vị:

1 - Ngô Vi Hùng: chi 2, Phó giáo sư, phó tiến sĩ, Đại tá bác sĩ quân y.

2 - Ngô Vi Thiện: chi 3, Giáo sư lịch sử quân sự.

 3 – Nguyễn Quýnh sinh năm 1927 Tiến sĩ, Phó Giáo sư 1984 giảng dậy Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân.

4 – Nguyễn Thuỵ Loan sinh năm 1945 Tiến sĩ , Phó giáo sư 1988 Nhạc Viện Âm nhạc Bungari.

5 –Trần Kim Anh: Cử Nhân vật lý (1970), Tiến Sĩ vật lý (1988), phó Giáo Sư vật lý (1996).

6 – Trần Đại Lâm: phó Giáo sư, Tiến sĩ (2009).

7 - TriÖu TriÒu D­¬ng, §¹i t¸ viÖn Qu©n y 108, B¸c sÜ 1985, TiÕn sÜ y häc 2003, Phã Gi¸o s­ y häc 2009.

TIẾN SĨ có 21 vị:

1 - Tưởng Bích Trúc, sinh năm 1926, Bác sỹ,  Tiến sĩ y khoa 1972.      

2 – Nguyễn Huyến sinh năm 1937 đỗ Tiến sĩ 1969 ngành Hoá Học , giảng dạy tại Mỹ.

3 – Nguyễn Hữu Đễ sinh năm 1954 Tiến sĩ Triết học Viện Mác-LêNin.

4 – Nguyễn Hữu Sáu sinh năm 1964 Tiến sĩ Y khoa.

5 - Ngô Đình Duyên – Tiến sĩ 1965

6 - Trần Đàm: Cử Nhân vật lý (1967), Tiến Sĩ vật lý (1977).

7 - Tưởng Thị Hội, sinh năm 1945, kỹ sư hoá (ĐHBK) 1968, Tiến sĩ Ngành hoá 1979, Giảng viên ĐHBK.

8 - Tưởng Bích Hà, sinh năm 1955, Kỹ sư (ĐHBK), Tiến sĩ hoá dầu 1986 ở Tây Đức.

9 – Phạm Hùng Dũng: Tiến sĩ hoá học năm 1989.

10 – Phạm Đức Độ: Tiến Sĩ năm 1997, ngành Điện khí hoá xí nghiệp.

11 - Ngô Ngọc Uyên – Bác sĩ 1994, Tiến sĩ y khoa 1999.

12 - Tưởng Thị Hồng Hạnh, sinh năm 1965, Bác sỹ Y khoa 1989, Tiến sĩ Y khoa 2002, Bs siêu âm BV quân y 108.

13 – Nguyễn Thuý Quỳnh sinh năm 1976 đỗ Tiến sĩ 2004 Âm Nhạc tại Mỹ.

14 - Ngô Trí Lâm –  Tiến sĩ năng lượng nguyên tử hạt nhân 2007.

15 - Ngô Quang Thắng – Tiến sĩ công nghệ hoá 2007

16 - Nguyễn văn Hoàng: Tốt nghiệp Tiến Sĩ tại Canađa, bộ môn công nghệ thông tin (tốt nghiệp 2010).

17 - Nghiêm Đình Nhập đỗ Tiến sỹ (chi thứ tư, sau năm 1945).

18 - Ngô Thị Hồng Châu – Tiến sĩ tin.

19 - Ngô đức Nam- Tiến sĩ hàng không.

20 - Ngô Vi Hải: chi 2, Tiến sĩ, Bác sĩ quân y.

21 - Ngô Minh Khải:Đại tá tiến sĩ KHKT ,Trưởng phòng HTQT.

THẠC SĨ có 27 vị:

1 - phạm Hoài Vũ: Thạc sĩ kinh tế năm 1996.

2 - Tưởng Vũ Cường, sinh năm 1953, Kỹ sư Xây dựng 1974, Thạc sĩ (khoa học – xã hội) 1999, Giảng viên ĐH xây dựng.

3 - Nguyễn Đức Thắng: 1993 Học viện Chính trị (cấp chiến dịch, chiến thuật), 1999 Thạc sĩ Khoa học xã hội & Nhân văn (Đại tá Quân đội).

4 - Nguyễn Xuân Triểu sinh năm 1950, tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học (Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 2000.

5 - Nguyễn Tất Toại sinh năm 1973 đỗ Thạc sĩ 2003, Viện Hoá Sinh công nghệ thực phẩm tại Pháp.

6 - Lưu Xuân Hùng: sinh năm 1965 Cử nhân tiếng Nga năm 1986, Cử nhân tiếng Anh năm 1997, Thạc sỹ tiếng Nga năm 2005, và học tại Nga năm 1990, nay là thượng tá- chức vụ trưởng khoa ngoại ngữ Học Viện Hậu Cần - Bộ Quốc Phòng.

7 - Ngô Hồng Điệp – Cử nhân 2000-Thạc sĩ 2005.

8 - Ngô Quang Trưởng – Thạc sĩ điện tử viễn thông 2005.

9 - Nguyễn Thị Thu Hoài sinh năm 1978 đỗ Thạc sĩ 2005 Viện Xây Dựng tại Đức.

10 - Trần Việt: Đại học Ngoại giao (2002), Thạc Sĩ kinh tế đối ngoại (2005).

11 - Trần Minh Thu: Cử Nhân ngân hàng, thủ khoa ĐH virginia Hoa Kỳ (2003), Thạc Sĩ ngân hàng (2006).

12 - Ngô Thị Tuyết Nhung –Thạc sĩ KT 2007.

13 - Nguyễn Thị Minh Tâm ( THS kinh tế 2007).

14 - Nguyễn Đình Kiên (THS kinh tế 2007).

15 - Phạm Thị Thuỷ: Cử nhân báo chí, Cử nhân ngoại ngữ (tiếng Anh) năm 1999, Cử nhân chính trị năm 2003, Thạc sĩ truyền thông năm (2007).

16 - Trần Cường: Cử Nhân thông tin (2004), Thạc sĩ thông tin (2008).

17 - Nguyễn Ngọc Khánh ( THS kỹ sư Cầu Đường 2009).

18 - Trần Thu Thuỷ: Cử Nhân kinh tế (2002), Thạc Sĩ kinh tế (2010).

19 - Lê Lan Ngọc: Cử Nhân kinh tế - kinh doanh quốc tế năm 2002; Thạc Sĩ Makerting năm 2010.

20 - Lê Ngọc Lan: Cử Nhân nông học năm 2004; Thạc Sĩ nông học năm 2010.

21 - Ngô Mạnh Cường – Cử nhân thú y 2004; Thạc sĩ nông nghiệp năm 2010.

22 - TriÖu Hång Anh, Cö nh©n th­¬ng m¹i 2006, Th¹c sÜ th­¬ng m¹i Mü 2010.

23 - Nguyễn Hữu Bảy sinh năm 1974 Thạc sĩ kinh tế.

24 - Ngô Thị Quang – Thạc sĩ hàng không.

25 - Ngô Thì Hiển – Thạc sĩ.

26 - Ngô Thì Đạt – thạc sĩ.

27 - Ngô Thì Huy Thạc sĩ.

CỬ NHÂN có 329 vị danh sách cụ thể ghi ở các Họ:

Tả Thanh Oai có                           (7 giáo sư) (21 tiến sĩ)(27 thạc sĩ)(329 cử nhân).

1 - Họ Bùi                                  1                                                         (1 cử nhân).

2 - Họ Đàm                                1                                                         (1 cử nhân).

3 - Họ Đào                                 0.

4 - Họ Hoàng                             2                                                          (2 cử nhân).

5 - Họ Lê                                    7                                      (2 thạc sĩ)   (5 cử nhân).

6 - Họ Lưu                                 5                                      (1 thạc sĩ)    (4 cử nhân).

7 - Họ Nghiêm                           1                    (1 tiến sĩ).

8 - Họ Ngô Thì                        58                     (6 tiến sĩ)  (8 thạc sĩ)   (44 cử nhân).

9 - Họ Ngô Vi                          31 (2 giáo sư)  (2 tiến sĩ)                     (27 cử nhân).

10 - Họ Nguyễn Duy               10                                                         (10 cử nhân).

11 - Họ Nguyễn Đào                 0.

12 - Họ Nguyễn Đức               17                                      (1 thạc sĩ)    (16 cử nhân).

13 - Họ Nguyễn Hữu                0.

14 - Họ Nguyễn Huy                0.

15 - Họ Nguyễn Khai Khoa  115  (2 giáo sư)  (4 tiến sĩ)  (3 thạc sĩ)  (106 cử nhân).

16 - Họ Nguyễn Như                3                                                             (3 cử nhân).

17 - Họ Nguyễn Quang            7                      (1 tiến sĩ)                        (6 cử nhân).

18 - Họ Nguyễn Tá                   2                                                             (2 cử nhân).

19 - Họ Nguyễn Thanh             5                                                             (5 cử nhân).

20 - Họ Nguyễn Thế               28                                       (3 thạc sĩ)    (25 cử nhân).

21 - Họ Nguyễn Trần                2                                                             (2 cử nhân).

22 - Họ Nguyễn Văn                 4                                                             (4 cử nhân).

23 - Họ Nguyễn Xuân               2                                       (1 thạc sĩ)      (1 cử nhân).

24 - Họ Phạm                          16                    (2 tiến sĩ)   (2 thạc sĩ)     (12 cử nhân).

25 - Họ Trần                            21 (2 giáo sư)  (1 tiến sĩ)  (4 thạc sĩ)     (14 cử nhân).

26 - Họ Triệu                          18  (1 giáo sư)                   (1 thạc sĩ)     (16 cử nhân).

27 - Họ Tưởng                        28                     (4 tiến sĩ)  (1 thạc sĩ)     (23 cử nhân).

28 - Họ Vũ                                0.

Binh: gồm các quân nhân, sỹ quan chỉ huy cấp tá, cấp uý, chiến sĩ đã nghỉ hưu, phục viên, hoàn thành nghĩa vụ về địa phương hoặc đang phục vụ tại ngũ trong quân đội đóng quân ở khắp các miền trên tổ quốc, trong hàng ngũ công an nhân dân, các quân nhân chuyên nghiệp trong lực lượng quốc phòng.

2 -SĨ QUAN LÀNG TẢ THANH OAI SAU NĂM 1945 có 44 vị gồm:

Có 21 vị cấp tá danh sách như sau:

Đại tá có 11 vị:

1– Nguyễn Thanh Sơn sinh năm 1927: Đại tá Công an - Lão thành Cách mạng.

2 – Tưởng Duy Hiếu sinh năm 1929, nhập ngũ năm 1949 nghỉ hưu năm 1989: Đại tá, chuyên gia quân sự Lào.

3 – Ngô Xuân Thiêm: Đại tá Quân y.

4 - Ngô Vi Đại: chi 3, Đại tá bác sĩ quân y.

5 - Tưởng Hoài Nam, sinh năm 1951, Kỹ sư (ĐHBK) 1973, Đại tá về hưu.

6 - Triệu Triều Dương, Đại tá viện quân y 108, Bác sĩ 1985, Tiến sĩ y học 2003, phó Giáo sư y học 2009. 
7- Nguyễn Đức Thái: 1986 Học viện Hậu cần (Đại tá Quân đội).

8- Nguyễn Đức Thắng: 1993 Học viện Chính trị (cấp chiến dịch, chiến thuật), 1999 Thạc sĩ Khoa học xã hội & Nhân văn (Đại tá Quân đội).

9- Ngô Vi Hoành: chi 3, Đại tá quân giới bộ Quốc phòng.

10- Nguyễn Hồng Vinh:  Đại tá QĐNDVN

11- Nguyễn Như Tùng: Đại tá CANDVN

Thượng tá có 2 vị:

1 - Ông Lưu Xuân Hùng sinh năm 1965 hiện đang tại ngũ cấp bậc thượng tá - chức vụ trưởng khoa ngoại ngữ Học Viện Hậu Cần- Bộ Quốc Phòng.

2- Tưởng Thị Hồng Hạnh sinh năm 1965 nhập ngũ 1985: Thượng tá, Tiến sĩ Y học viện quân y 108.

Trung tá có 3 vị:

1 - Triệu Văn Phong, Trung tá công an, 1969.

2 - ông Bùi Sơn Đông đi bộ đội, sau về hưu cấp bậc Trung Tá.

 3 – Nguyễn Anh Tuấn sinh năm 1957: Trung tá Công an.

Thiếu tá có 6 vị:

1 -  Nguyễn Văn Mão: Thiếu tá QĐNDVN nghỉ hưu.

2 - Nguyễn Đăng Đức: Thiếu tá Công an, nghỉ hưu.

3 - Ông Lưu Đình Tu đi bộ đội, Năm 1976 ông được chuyển sang công tác tại Bộ công an, cấp bậc là thiếu tá, nay đã nghỉ hưu.

4– Tưởng thị Tuyết sinh năm 1951 nhập ngũ 1968 nghỉ hưu 2001: Thiếu tá quân y, Viện y học cổ truyền quân đội.

5– Nguyễn Thị Phương Mây sinh năm 1957: Thiếu tá Công an.

6 - Nguyễn Hồng Thái: Thiếu tá Công an, đương nhiệm, con ông Đức.

 Tổng số SĨ QUAN cấp uý có 22 vị, danh sách ghi ở các Họ như sau:

Họ Bùi 1 tá, Họ Đàm 0, Họ Đào 0, Họ Hoàng 0, Họ Lê 0, Họ Lưu 3 (2 tá, 1 uý), Họ Nghiêm 0, Họ Ngô Thì 5 (1 tá, 4 uý), Họ Ngô Vi 2 tá, Họ Nguyễn Duy 0, Họ Nguyễn Đào 0, Họ Nguyễn Đức 2 tá, Họ Nguyễn Huy 0, Họ Nguyễn Khai Khoa 5 (3 tá, 2 uý), Họ Nguyễn Như 3 (2 tá, 1 uý), Họ Nguyễn Quang 0, Họ Nguyễn Thế 5 (3 tá, 2 uý), Họ Nguyễn Trần 0, Họ Nguyễn Văn 3 uý, Họ Nguyễn Xuân 2 uý, Họ Phạm 1 uý, Họ Trần 2 uý, Họ Triệu 2 tá, Họ Tưởng 7 (4 tá, 3 uý), Họ Vũ 1 uý.

Biên tập: Bác sỹ Tưởng Văn Hoà.
Ngày 16 - 9 - 2011.