Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
Làng khoa bảng Tả Thanh Oai (Tập 5/7)
Thứ tư, 05 Tháng 10 2011 11:38
 

Làng khoa bảng Tả Thanh Oai (Tập 5/7)


3 -KHOA BẢNG, VĂN QUAN, VÕ TƯỚNG, SĨ QUAN, VĂN BIA HIỆN CÓ TRONG CÁC HỌ Ở LÀNG.

1 - HỌ BÙI.  

Bùi Hằng Nga sinh 1963 tốt nghiệp Đại học Dược năm 1985, làm cán bộ Cục Hải Quan TP: Hà Nội.

Thời kỳ chống Mỹ có ông Bùi Sơn Đông sinh 1950, đi bộ đội 04/1968, sau về hưu 10/1990, cấp bậc Trung Tá.

2 - HỌ ĐÀM               

         1 – Đàm Văn Mạnh sinh 1972  kỹ sư năm 1992 Đại học bách khoa.

3 - HỌ ĐÀO                      

Bia họ (nội dung):

Đệ nhất bia văn (văn bia số 1).

TRIỆU (mở đầu).

TỔ (cụ thuỷ tổ).

                               MỤC TỔ (hàng sau)          CHIÊU TỔ (hàng trước)

Cột 1 – Đinh Mão khoa Sinh đồ (Tú tài) Đào Khắc Cần tiên sinh.

Cột (2+3) – Hoàng Mậu lang Mật thư Thự điển thư Giảm trung tử Đào quý công tự Khiết Cổ tiên sinh hiệu Hồng Nhuận tiên sinh. Tổ tỷ Ngô Thị hiệu Từ Thuận nhụ nhân.

Cột 4 - Ất chi Đào quý công hiệu: Phúc Trường, Phúc Bình, Phúc Toàn, Phúc Thuần liệt vị, tổ tỷ liệt vị.

 Cột 5 – Đào quý công tự Huệ Ân hiệu Phúc Duyên phủ quân, tổ tỷ Ngô Thị hiệu Từ Hạnh nhụ nhân.

Cột 6 – Đào quý công tự Chu Trinh hiệu Phúc Khánh phủ quân, tổ tỷ Nguyễn Thị hiệu Từ Thuận nhụ nhân.

Cột 7 – Đào quý công tự Mẫn Huệ hiệu Trực Lượng phủ quân, tổ tỷ hiệu Từ Bà nhụ nhân.

Cột 8 – Đào quý công tự Bảo Tá hiệu Phúc Tuy phủ quân, tổ tỷ Nguyễn Thị hiệu Từ Thiện nhụ nhân.

Cột 9 – Đào quý công tự Hiếu Cổ hiệu Phúc Thịnh phủ quân, tổ tỷ Ngô Thị hiệu Từ Huệ nhụ nhân.

Cột 10 – Giáp chi Thiếu tổ Đào quý công: Phúc Cần, Phúc Khánh, Huy Dung, Việt Thiệu liệt vị, tổ tỷ liệt vị.   

                      Đệ nhị bi văn (văn bia thứ hai).

            XUÂN THU PHỐI TỰ (phối thờ cúng hàng năm)

Thường nghe người gốc ở Tổ Tiên, thì thiên luân có thứ bậc, mà phong hoá đầy đặn vậy. Cụ nội Đào khắc Khoan sinh ra cụ Đào Khắc Sáng đến Đào Thi Cần gặp lúc không con nối dõi, nhân có một mẫu một sào góp cho họ cung cấp việc tế tự hàng năm phối hưởng ở đàn thờ tổ, vì vậy mà hiển thị  đời đời rạng rỡ, mở rộng việc ghi những duệ hiệu sau đây:

Hiển Tổ khảo Hương lão lão nhiêu Đào Quý Công tự Khắc Khoan hiệu Phúc Chí phủ quân.

Tổ tỷ Đào môn chính thất Nguyễn thị hàng ngũ hiệu Từ Thịnh nhụ nhân.

Hiển khảo Đào Quý Công tự Khắc Sáng hiệu Diên Phúc phủ quân.

 Hiển tỷ Đào quý công chính thất Nghiêm Thị hiệu Từ Thịnh nhụ nhân.

Hiển tỷ Tưởng quý công thứ thất Đào Thị hàng tứ hiệu Từ Diệu nhụ nhân.

Hiển tỷ Đào quý công thứ thất hiệu Từ Mỹ nhụ nhân.

Ngoại nữ tôn: Tưởng Thị Thuần, Tưởng Thị Nhị, Tưởng Thị Tổn đồng phụng chi.

Đệ tam bi văn ( văn bia thứ ba)

NHÂM DẦN NIÊN QUÝ ĐÔNG TẠO

 Tộc hậu liệt vị

Tổ tỷ Đào thị hiệu Từ Hậu nhụ nhân.

Tổ khảo Đào công Khắc Thông phủ quân.

 Tổ tỷ Nguyễn thị Từ Đạt nhụ nhân.

Tổ khảo Đào Công Như Lục phủ quân.

Tổ tỷ Nguyễn thị Từ Thắm nhụ nhân.

 Tổ khảo Đào Công Như Tiết phủ quân.

 Tổ tỷ Nguyễn thị Đăng nhụ nhân.

Hiển tỷ bát phẩm Đào Quý Công thứ thất, Hà thị Từ Trinh nhụ nhân.

4 - Họ HOÀNG               

1 - Hoàng Bá Cường sinh 1959 Đại học bách khoa.

2 - Hoàng Bá Tuân sinh 1981 Đại học thương mại.

  5 - HỌ LÊ.                      

1 –Lê Văn Thỉnh: Cử Nhân ngành cơ khí năm 1976.

2 –Lê Trang Thanh: Cử Nhân kế toán thương mại năm 1996.

3 –Lê Thanh Thuỷ: Cử Nhân công nghệ sinh học năm 1996; Cử Nhân quản trị doanh nghiệp năm 2006.

4 – Lê Lan Ngọc: Cử Nhân kinh tế - kinh doanh quốc tế năm 2002; Thạc Sĩ Makerting năm 2010.

5 –Lê Ngọc Lan: Cử Nhân nông học năm 2004; Thạc Sĩ nông học năm 2010.

6 –Lê Văn Tài: Cử Nhân sư phạm Văn năm 2005.

7 –Lê Thị Thoa: Cử Nhân kế toán tài chính năm 2010.

6 - HỌ LƯU

Hiển lục đại tổ khảo vinh phong Trung Hưng yết tiết tuyên lực công thần đặc tiến kim tự vinh lộc đại phu Thái Thượng tự tự khanh khiêm lễ hầu, phong tặng bộ Tả Thị Lan khiêm quận công Gia Phong công bộ Thượng Thư Thái Bảo trung phong thái phó Lưu tướng công tự phúc diễn huý đức trọng tiên sinh.

- Ông Lưu Đình Tu đi bộ đội chiến đấu ở B5, cấp bậc thiếu uý, chức vụ đại đội trưởng. Năm 1976 ông được chuyển sang công tác tại Bộ công an, cấp bậc là thiếu tá, nay đã nghỉ hưu. Ông được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng 2 và huy chương bảo vệ an ninh tổ quốc.

- Ông Lưu Đình Hồng đi bộ đội năm 1964 đến năm 1986 nghỉ hưu với quân hàm đại uý, chức vụ chính trị viên tiểu đoàn, ông được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng 2.

- Ông Lưu Xuân Hùng hiện đang tại ngũ cấp bậc thượng tá - chức vụ trưởng khoa ngoại ngữ Học Viện Hậu Cần- Bộ Quốc Phòng.

* Học hàm, học vị đỗ cương vị công tác hiện nay:

1. Lưu Xuân Hùng: sinh năm 1965 Cử nhân tiếng Nga năm 1986, Cử nhân tiếng Anh năm 1997, Thạc sỹ tiếng Nga năm 2005, và học tại Nga năm 1990, nay là thượng tá- chức vụ trưởng khoa ngoại ngữ Học Viện Hậu Cần - Bộ Quốc Phòng.

2. Lưu Đình Hùng- sinh năm 1975 cử nhân kinh tế luật được cấp bằng năm 2009, cương vị nguyên là trưởng công an xã, hiện nay là phó chủ tịch UBND xã Tả Thanh Oai.

3. Lưu Thị Chanh: sinh năm 1974 cử nhân sư phạm cấp bằng năm 2001 cương vị công tác giáo viên, tổng phụ trách trường tiểu học xã Tả Thanh Oai.

4. Lưu Thị Lê: sinh năm 1983 cử nhân kinh tế được cấp bằng năm 2006 là công chức công tác tại thành phố Hà Nội.

5. Lưu Bá Cương: sinh năm 1985 cử nhân thể thao du lịch được cấp bằng năm 2008 là công chức công tác tại sở thể thao Hà Nội.

* Tông đồ dòng họ Lưu

Khoảng năm 1408 đời thứ nhất thuỷ Tổ Lưu tộc là Lưu Quý Công, huý kiến hiệu phúc tâm.

Năm 1435 đời thứ 2 huý hiều hiệu Pháp thắng.

Năm 1470 đời thứ 3 huý cần hiệu Phúc Đạo.

Năm 1505 đời thứ 4 tự Phúc Hải.

Năm 1535 đời thứ 5 tự Huy Minh.

Năm 1565 đời thứ 6 tổ Khảo minh phong Tả Thị Lang thượng thư Thái Bảo Lưu Tướng Công tự đức trọng tiên sinh.

- Đời thứ 7: Tổ khảo vinh phong tám chi công thần vinh lộc Đại phu Lưu tướng công huý hiền quảng tuyên sinh.

- Đời thứ 8: Công thần tôn phúc an

- Đời thứ 9: Tự đăng tướng hiệu phúc hải.

- Đời thứ 10: Tự phúc thiện - hiệu ôn cẩn.

- Đời thứ 11: Tổ khảo xuất thân, phụng chuẩn yết chung, tướng quân chỉ huy sứ Lưu tướng công tự thanh nhã hiệu tả xuyên tiên sinh.

- Đời thứ 12: Công thần tôn chiêu văn quán Lưu Tướng Công tự tất tố hiệu tả giang tiên sinh.

* Năm thứ 6 khải Định 1921 ngày 11 tháng giêng âm lịch bản tộc thông qua quyết định thường xuyên về họp họ dâng hương tế tổ tại nhà thờ.

- Việt Nam tuế thứ canh thân 1980 ngày 11 tháng giêng âm lịch bản tộc họp quyết định thường niên tổ chức việc họ luân phiên cho các gia đình đều được chứa việc họ.

- Đời thứ 18: Lưu Đình Đạo sinh 2 con trai: Đình Canh, Đình Mão.

- Đời thứ 19: Lưu Đình Canh trưởng họ sinh 2 con trai: Đình Cảnh, Đình Hưng.

- Đời thứ 20: Lưu Đình Cảnh sinh 1 con trai Duy Anh.

- Đời thứ 21: Lưu Duy Anh.

*Dòng họ Lưu sinh hoạt hội họp để phát triển:

 Xuân tế việc họ ngày 11 tháng giêng âm lịch năm 2005 bản tộc họp bàn quyết định từ nay tổ chức xuân tế việc họp mặt tại gia đình ông trưởng họ Lưu Đình Canh, con dâu, con gái họ cũng được quyền đến dự tế tổ và bàn công việc xây dựng họ để thực hiện quyền  nam nữ bình đẳng trong dòng họ Lưu.

7 - HỌ NGHIÊM

1.Nghiêm Đình Giao  đỗ Tú tài (chi thứ tư, trước năm 1945).

2.Nghiêm Đình Nhập đỗ Tiến sỹ (chi thứ tư, sau năm 1945).     

         Bia họ (nội dung): Hiện nay chỉ còn một tấm bia đá có ghi chữ Hán như sau:

        Hiển cao cao tổ khảo hiệu ( Phúc Quảng)

        Hiển cao cao tổ tỷ hiệu (Từ Thái)

        Hiển cao tổ khảo hiệu (Phúc Minh)

        Hiển cao tổ tỷ hiệu (Từ Hoà)

                 Đến đời thứ ba

        Ông Phúc Minh sinh được 5 người con:

        Con trưởng Nghiêm Công Trực, Tả Thanh Oai

        Con thứ hai Nghiêm Công Túc, Tả Thanh Oai

        Con thứ ba Nghiêm Công Thức, Tả Thang Oai.

 8 - HỌ NGÔ THÌ                                  

                                BÀI VĂN BIA Ở ĐÀN TRUY VIỄN

                                                      Binh-Bộ Thượng-Thư

                                                      Cụ Ngô- Hi-Doãn soạn

Họ Ngô ta tông chi họ hàng rất xa, đầu đuôi thế nào là tỏ tường, không được nghe cả. Nguyên cụ Triệu-Tổ ta là Phúc-Cơ, cụ bà là Từ-Khanh, mới thành một chi họ ở làng Tả Thanh Oai, sinh ra:

Cụ tổ 12 đời hiệu là Mỹ-Đức làm quan Cao Sơn cục Chánh chưởng, ấy là hạng quan văn, cụ bà hiệu là Từ-Lạc.

Cụ tổ 11 đời hiệu là Hoàng-Nghị làm quan Đô-Chỉ-Huy coi việc Thần-Vũ Hậu-Vệ, kiêm coi việc quan Kinh xa Uy, cáo thụ là quan Minh-Đức tướng quân, tước là Uy-Vũ Hầu ấy là hàng quan vũ. Cụ bà là Minh-Tuệ họ Dương.

Cụ tổ 10 đời hiệu là Cẩn-Tiết, phát khoa đỗ nho-sinh trúng thực, cụ bà hiệu là Thúc-Tâm, con trưởng là cụ Phúc-Nguyên, con thứ là cụ Phúc-Toàn, ngành sau chi Cụ phúc-Toàn là cụ Trung-Thạc hiệu là Nhân-Trai đỗ Tiến-Sĩ khoa Canh-Thìn làm quan Thượng-Thư Bộ-Hộ, cáo thụ là Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, tước Huy-Quận-Công tặng là Thiếu Bảo, cụ Hồng-Lương hiệu là Thân-Trai, đỗ Tiến-Sĩ khoa Tân-Sửu làm quan Thượng-Thư Bộ-Binh, dự hàng Tuyên-Lực công thần, cáo thụ là Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, tặng là Thiếu Bảo, tước Phương-Quận-Công, đều là cháu bốn đời cụ Phúc Toàn. Cụ Minh-Duệ hiệu là Thuần-Cân, đỗ Tiến-Sĩ khoa Mậu-Thìn, quan Hiếu-Thảo toà Hàn-Lâm-Viện ấy là cháu năm đời cụ Phúc-Toàn. Họ ta từ khi ấy mới thành họ to. Chia ra từng chi, cũng trước từ đấy.

   Cụ tổ chín đời hiệu là Phúc-Nguyên, làm quan Chủ-bạ huyện Linh-Sơn, cụ bà hiệu là Thuần-Nhất họ Nguyễn, cụ kế hiệu là Từ-Thái họ Vũ.

   Cụ tổ tám đời tự là Trung-Tuấn hiệu là Hoà-Khê Tiên Sinh con bà Thuần-Nhất làm quan tể huyện Quỳnh-Côi, cụ bà hiệu là Tử-Lương họ Ngô Vi.

  Cụ tổ bẩy đời hiệu là Trực-Thành, làm quan Chủ-Bạ, cụ bà hiệu là Tử-Trang họ Ngô Vi.

  Cụ tổ sáu đời tự là Phúc-Duyên đạo hiệu là An Tĩnh tiên sinh, dự hàng quốc nhiêu học, cụ bà hiệu là Tử-Quang họ Nguyễn, con trưởng là cụ Phúc-Nguyên, truyền cháu năm đời tên Đình-Giai, nay là người trưởng họ, con thứ là cụ Thông-Đạt, con cuối là cụ Trạc-Lạc đỗ đầu khoa Hoành Từ.

  Cụ tổ năm đời tự là Thông-Đạt, đạo hiệu là Nhã-Thực tiên sinh, làm quan Tri-Trung ở phủ Phụng-Thiên, cáo thụ là quan Quang Tiến Thân Lộc Đại Phu, tước Thịnh Lộc Nam, bà cụ cả hiệu là Thục-Đễ, bà cụ hai hiệu là Từ-Nghi, hai cụ đều họ Nguyễn.

  Cụ Tằng-Tổ hiệu là Khiêm-Văn, đạo hiệu là Đan-Nhạc tiên sinh con bà Từ-Nghi, làm quan Cẩn Sử Lang, thăng quan Tư-Thừa toà Đại-Lý Tự, cụ bà hiệu là Từ-Đoan huy nhân họ Nguyễn.

  Cụ tổ khảo tự là Thuần-Mỹ đạo hiệu là Tuyết-Trai tiên sinh, tặng quan là Tham-Nghị toà Thừa Chánh Sứ trên sứ Tuyên-Quang, cáo thụ là Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, tước phong Trạch-Bá, gia tặng là quan Thái-Bộc Tự-Khanh, chức Tu-Thận-Doãn, cụ bà hiệu là Tuyết-Ý phu nhân họ Tưởng.

  Cụ hiển khảo hiệu là Thế-Lộc, đạo hiệu là Ngọ-Phong tiên sinh, đỗ Hoàng-Giáp khoa Bính-Tuất, làm quan Hữu Thị-Lang bộ Hộ Khâm-Sai ra làm Đốc-Trấn xứ Lạng-Sơn, sau tặng là Thượng-Thư Bộ Lễ, cáo thụ là Đặc-Tiến Kim-Tử Vinh-Lộc Đại-Phu, tước Khánh duyên Hầu, bảo phong phúc thần, sắc cho Mỹ tự là Ôn-Bác Hầu-Thành Văn-Dụ, Khuông-Vận, Phù-Đạo, Xương-Trạch, Đại-Vương, rồi lại thêm ba chữ, Hộ-Quốc, Bảo-Dân, Hồng-Liệt, cụ bà hiệu là Trinh-Từ chính phu-nhân họ Nguyễn khai khoa.

    Thế thứ bầy ra từng hàng, xa mến công đức người trước, báo gốc đền ơn, bụng nghĩ thực thiết. Xét trong kinh điển, tế chỗ đàn là lễ, tế chỗ mộ chả phải là lễ, kính xây đàn thờ, ở xứ bờ sông Nhuệ, thôn Đức-Lâm làng ta, đặt hiệu là Truy-Viễn đàn. Mỗi năm tháng giêng cách sau một ngày làng ta kỵ khánh, hợp tế ở đàn, vâng đem từ cụ Triệu-Tổ hiệu là Phúc-Cơ, đến cụ Phúc-Nguyên, cụ Phúc-Toàn, bầy từng thần vị cùng đàn, thứ tự hàng chiêu hàng mục, còn từ các ngành phân chi giở xuống, mỗi cụ ông với cụ bà trong hàng Tổ-Tông ở chi Đại-Tông, chi Tiểu-Tông, cũng như thần vị mọi ông các khoa hiển hoạn, đều mời phối hưởng. Ấy là Tôn ông Tổ kính ông Tôn, rõ bầy công đức, muốn cho rấy tỏ cái nghĩa họp tinh thần người trước ở chỗ đàn thờ để dâng bụng mình sùng bái đó thôi, sau này muôn đời nên noi theo, đừng có vượt trái, nay có bài Chiêu-Mục Nghị với các xứ sở ruộng tế điền cùng các phẩm tiết tế tự đều khắc sau bia để truyền lâu dài.

Nhĩ tôn là: Ngô Thời Nhiệm kính làm bài ký.

                         BÀI VĂN BIA NHÀ THỜ SÙNG ĐỨC

                                    Binh-Bộ Thượng-Thư cụ Hi-Doãn soạn

Nhà thờ Sùng-Đức làm về mùa xuân năm Bính-Tuất, đời vua Cảnh-Hưng. Nguyên năm ấy, đứng Tiên-Khảo ta là cụ Văn-Dụ Vương, thi đỗ Hoàng-Giáp đã vinh quy, cắm một khu đất ở đằng Đông nhà chính Tây, sửa nền dựng cột, đón mạch long phương Cấn lập hướng, nhà phương Bính, nước nối dương từ phương Đinh thuộc ngôi sao Lộc-Tồn đổ lại, sà bái tướng luôn ôm đằng Nam, nước dương long quanh vòng đằng Bắc, đằng Đông thì núi Huỳnh trông sang, đằng Tây thời sông Nhuệ bọc lại cũng là một ngôi dương có tốt làng ta đó. Nghĩ các cụ Tổ-Khảo ta trước dốc lòng vun nên nhân hậu, đến ông Tiên-Khảo ta mới mở rộng cửa nhà, hay đằng phúc mình về sau việc học thi thư chưa hơn trăm năm, tốt sao ! vui thế ! ấy là Đức Hoàng-Thượng đã thực cho nhà ta lấy sách điền tịch với người hiện tại. Tằng Tôn là Nhiệm này, thờ Tiên-ấm không xiết bao, truyền hàng con em cùng cháu, lâu mà chả xuy, chả là phúc ấm chất trước các cụ ta để lại đã rộng và xa thế ư ? Ta xét mình sửa nết, chả bằng người xưa, tài ít đức mỏng, vấp mà lại dậy, chăm chăm lo sợ nghĩ việc tiên nghiệp cha nên để đó nhân khi thu ứng việc đời đã lâu, giãi bày công đức các cụ Tổ-Khảo khắc vào bia đá, để bao đời sau mỗ này là người ít đức, đừng nên bắt trước. Nghĩ đứng Tằng-Tổ khảo ta là cụ Đan-Nhạc, hiền hậu thực thà, nhời nói nết làm, theo noi vong thuộc, đứng tổ khảo bà cụ tuyết –trai cao xa trong sạch, chả mến những việc ngoại thân, đứng Tiên-Khảo bà cụ Văn-Dụ Vương, văn chương hơn đời, lòng không ham chán việc gì, mà điều đại tiết rất nghiêm. Ấy ba cụ ta, đều không sợ xấu thực đủ làm phép cho người đời sau này. Xem xét việc tình việc lễ đều nên trăm đời không rời thần chủ, kính dâng nhà thờ là nhà Sùng-Đức từ, nghìn năm tế thờ đừng có vượt trái. Mỗ kính noi ra đạo, ngày khác phụ thờ ở miếu đức Tiên-Công, nên thay đời và cất chủ, theo như lẽ thường, than ôi ! luân lý sửa bầy đặc người ấy là việc nhớn, phần người sau ta, ngẫm nghĩ việc ấy, thời những điều Văn-Hiến nhà ta mới nay nhờ phúc giời mà không xa đỗ được chăng. Còn điều nghi tiết tế thờ, với các ruộng ao vườn đất dành làm hương hoả, khắc đằng sau bia, để truyền lâu dài.

                                                                             Tằng tôn mỗ làm bài ký.


           Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác):

1- Ngô đình Thạc (1670-?) còn có tên là Oanh, hiệu là Nhân Trai, đỗ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân khoa Canh Thìn, niên hiệu Chính Hoà, đời Vua Lê Hy tông (1700)

2- Ngô Đình Chất (1686-?) sau đổi là Ngô Đình Oánh, em Ngô Đình Thạc, đỗ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái, đời Vua Lê Dụ Tông (năm 1721).

3- Ngô Thì Sĩ (1725-1780) tự Thế Lộc, hiệu là Ngọ Phong, khoa Bính Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng (năm 1766), Ngô Thì Sĩ mới đỗ Hoàng Giáp.

4- Ngô Thì Nhậm (1746-1803) là con trưởng của Ngô Thì Sĩ, hiệu là Đạt Hiên.  Khoa Ất Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng, đời Vua Lê Hiển Tông (1775), ông đỗ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân.

5- Ngô Điền (1814-?) sách các nhà khoa bảng Việt Nam chép là Ngô Điền do chữ “Chân” và chữ “điền” có tự dạng gần giống nhau, ông đỗ Hoàng giáp khoa Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị (năm 1841). Cả thi Hội và thi Đình ông đều đỗ thứ hai, làm quan Tri phủ.

6 –Ngô Tuấn Dị tự là Minh Duệ hiệu Đôn Cẩn đỗ Tiến sĩ năm Mậu Thìn (1688 đời vua Lê, Chính Hoà thứ 9), quan là Hàn lâm viện Hiệu thảo.

-Họ Ngô Thì có các vị: (gia phả không ghi năm đỗ của các Hương cống).

 1, Cẩn Tiết tiên sinh (tên hiệu),                                      Hương cống.

 2, Ngô Đình Đoán,                                                         Hương cống.

 3, Ngô Tuấn Mậu,                                                          Hương cống.

 4, Ngô Đình Nhu,                                                           Hương cống.

 5, Ngô Đình Thực,                                                          Hương cống.

 6, Ngô Đình Vinh,                                                          Hương cống.

 7, Ngô Đình Viên,                                                           Hương cống.

 8, Ngô Bá Côn,                                                               Hương cống.

 9, Ngô Tuấn Trạc,                                                           Hương cống.

 10, Tuyết Trai (tên hiệu),                                                Hương cống.

 11, Ngô Tôn Thường,                                                     Hương cống.

 12, Ngô Huy phan,                                                          Hương cống.

 13, Ngô Đình Phan,                                                         Hương cống.

 14, Ngô Thời Đính,                                                         Hương cống.

 15, Ngô Đình Khải,                                                         Hương cống.

 16, Ngô Chẩn,                                        (đỗ năm 1840), Hương cống.

 17, Ngô Đức,                                          (đỗ năm 1867), Hương cống.

 18, Ngô Giáp Đậu,                                  (đỗ năm 1891), Hương cống.

Sau cách mạng:

1. Ngô Mạnh Lân- Nghệ sĩ nhân dân.

2. Ngô Đình Duyên – Tiến sĩ 1965.

3. Ngô Ngọc Uyên – Bác sĩ 1994, Tiến sĩ y khoa 1999.

4. Ngô Quang Thắng – Tiến sĩ công nghệ hoá 2007.

5. Ngô Trí Lâm –  Tiến sĩ năng lượng nguyên tử hạt nhân 2007.

6. Ngô Thị Hồng Châu – Tiến sĩ tin.

7. Ngô đức Nam- Tiến sĩ hàng không.

8. Ngô Quang Trưởng – Thạc sĩ điện tử viễn thông 2005.

9. Ngô Hồng Điệp – Cử nhân 2000-Thạc sĩ 2005.

10. Ngô Thị Tuyết Nhung –Thạc sĩ KT 2007.

11. Ngô Mạnh Cường – Cử nhân thú y 2004; Thạc sĩ nông nghiệp năm 2010.

12. Ngô Thị Quang – Thạc sĩ hàng không.

13. Ngô Thì Hiển – Thạc sĩ.

14. Ngô Thì Đạt – thạc sĩ.

15. Ngô Thì Huy Thạc sĩ.

16. Ngô Đình Tình – Cử nhân dược 1962.

17. Ngô Đình Thục- Kỹ sư xây dựng 1964.

18. Ngô Thế Dũng- Kỹ sư 1972.

19. Ngô Tuấn Lượng – Cử nhân hóa 1976.

20. Ngô Thị Ngọc Tú – Cử nhân kinh tế 1977.

21. Ngô Hoài Chương – Cử nhân kinh tế 1978.

22. Ngô Đức Diễn – Cử nhân sư phạm 1979.

23. Ngô Thị Thủy (Trác)- Cử nhân sư phạm 1982.

24. Ngô Văn Mạnh –Bác sĩ y khoa 1985.

25. Ngô thế vinh -Kỹ sư điện 1988.

26. Ngô Thế Thảo – Cử nhân sư phạm 1900.

27. Ngô Đức Nhân- Cử nhân CK 1995.

28. Ngô Ngọc Uyển – Cử nhân kinh tế 1996.

29. Ngô Bích Quyên –Cử nhân văn 1997.

30. Ngô Quốc Côn – Cử nhân sư phạm 2000.

31. Ngô Văn Trác – Cử nhân kinh tế 2000.

32. Ngô Thị Mai – Cử nhân kinh tế 2000.

33. Ngô Quốc Hùng -Cử nhân sư phạm 2003.

34. Ngô Xuân Mạnh-Cử nhân tin 2004.

35. Ngô Đức Quế - Cử nhân điện tử 2004.

36. Ngô Thị Lan –Cử nhân sư phạm 2004.

37. Ngô Thị Hương – cử nhân kinh tế 2005.

38. Ngô Thị Diệu - Cử nhân sư phạm 2005.

39. Ngô Thế Tân- Cử nhân điện 2005.

40. Ngô Đình Kiên- Cử nhân kinh tế 2006.

41. Ngô Thị Thành – Cử nhân tin 2007.

42. Ngô Văn Trúc – Cử nhân sư phạm 2008.

43. Ngô Văn Quế - Cử nhân công an 2009.

44. Ngô Văn Quang – Cử nhân kinh tế 2009.

45. Ngô Ngọc Quý – Cử nhân luật 2009.

46. Ngô Thị Thủy -Cử nhân sư phạm.

47. Ngô Phúc Điền – Cử nhân kinh tế.

48. Ngô Thị Mai Hương – Cử nhân kinh tế.

49. Ngô Văn Bằng -Cử nhân y.

50. Ngô Thì Định – Cử nhân luật.

51. Ngô Đức Kính – Cử nhân sư phạm.

52. Ngô Giáp Đậu- Cử nhân văn khoa.

53. Ngô Xuân Toàn – Cử nhân luật.

54. Ngô Đình Tuấn – Cử nhân nhạc sĩ.

55. Ngô Đình Trịnh – Cử nhân kinh tế.

56. Ngô Đình Bao – Cử nhân cơ khí.

57. Ngô Xuân Thiêm-  Bác sĩ y khoa.

58. Ngô Mạnh Hưng – Cử nhân quan hệ quốc tế.

Sĩ quan quân đội từ năm 1945 đến nay:

1 – Ngô Xuân Thiêm: Đại tá Quân y.

2 – Ngô Văn Châm: Đại uý Phi công.

3 – Ngô Xuân Mạnh: Đại uý Quân y.

4 – Ngô Đình Giáp: Trung uý.

5 – Ngô Đình Lễ: Sĩ quan.

9 - HỌ NGÔ VI

Chức danh các cụ họ Ngô Vi.

Phụng sự dưới các triều đại phong kiến:

Đời thứ 1: Bồ Đốc Công, thuỵ Tu Đức, hiệu Trọng Đạo tiên sinh.

Đời thứ 2: Phúc Quảng tiên sinh, là Quốc tử giám học quan (Tứ phẩm).

Đời thứ 3: Phúc Diễn tiên sinh, làm Quan lộc đại phu Hành đài tuyên phủ sứ (Nhị phẩm). Thập tam đạo giám sát ngự sử.

Đời thứ 4: Thận Tính tiên sinh. Ấm quan (Ngũ phẩm).

Đời thứ 5: Phúc Tướng tiên sinh. Ấm quan (Lục phẩm).

Đời thứ 6: Phúc Thắng tiên sinh, là Phủ sinh (Bát phẩm).

Ngô Nguyên, hiệu Quảng Bình tiên sinh, Quốc tử giám, giám sinh ứng nội vụ mật viện.

Đời thứ 7: Tổ Xuyên tiên sinh, làm Mậu lâm lang trung, chức Tam đạo giám sát ngự sử (Tam phẩm).

Ngô Ngọc (1454-1522), hiệu Tiền Xuyên tiên sinh, đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487), đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp). Bia số 8 QTG, chức Lễ khoa đô cấp sự trung.

Đời thứ 8: Tô Xuyên, tự Minh Trí tiên sinh, làm Cẩn sự lang, huyện thừa huyện Thanh Ba. Phụng trừ. Lễ bộ sểnh ty vụ (Ngũ phẩm).

Ngô Bản Nhàn, tự Ngột Hiên tiên sinh. Nho sinh trúng thức, làm Mậu lâm lang trung.

Ngô Nhân Hải (1487….), đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1508). Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp). Bia số 4/BN, làm Giám sát ngự sử.

Ngô Tôn, hiệu Cư Tâm tiên sinh, chức Tiền bột hải quân, đệ tam lang.

Ngô Quang Tổ (1475….), đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1508). Chức Hiến sát sứ.

Đời thứ 9: Đường Xuyên tiên sinh., chức Cẩn sự lang. Đông Thành huyện, huyện thừa. Phụng trừ Lễ bộ sểnh ty vụ (Lục phẩm).

Ngô Văn Chính, là Nho sinh trúng thức, chức Lục sự Vệ thần vũ.

Ngô Quang Toản, hiệu Phú Đức phủ quân, chức Tiền Bột Hải quân.

Đời thứ 10: Ngô Khánh Sơn, làm Thức trung thư Huyện lại, thăng Lễ bộ đề lại.

Ngô Vi Đình, tự Ngô Sĩ Thường (1542-1619), hiệu Bỉnh Trung, thuỵ Thủ Nghĩa tiên sinh. Phụ quốc Thượng tướng quân Trụ quốc Hưng quốc vệ, đô chỉ huy xứ ty, tuyên vũ, đô chỉ huy, đồng tri. Dĩnh Dương Hầu (Tòng nhất phẩm).

Ngô Nhân Trừng (1539….) tự Quế Hiên, hiệu Nhạc Sơn tiên sinh, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1580), Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) Bia số 6/BN. Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu. Quan lộc tự khanh. Đề lĩnh Tây thành. Đốc đồng Nam Bắc. Thập tam đạo. Tham chính. Thái uý Sùng Quốc Công (có quyền tiền trảm hậu tấu). (Cháu nội Ngô Ngọc, con Ngô Nhân Hải, cha Ngô Nhân Triệt, ông nội Ngô Nhân Tuấn).

Ngô Trí Trạch, tự Đức Tâm. Phúc Đức tiên sinh. Kim tử vinh lộc đại phu. Gia tăng Thái Bảo. Đào Nguyên Bá.

Đời thứ 11: Ngô Vi Mạch (1583-1645) tự Đạo Diễn, hiệu Thông Hiếu tiên sinh. Quốc tử giám học quan. Chỉ thụ giảng dụ.

Ngô Quý Công, tự Đốc Thực, thuỵ Chí Kính tiên sinh. Quốc tử giám, Giám sinh chỉ thụ giảng dụ, kiêm Thư ký đạo Hải Dương.

Ngô Phúc Thư, tự Dậu, hiệu Tâm Chính tiên sinh. Quang tiến thân lộc đại phu. Đại lý tư kiêm tư Nam Phong, tặng Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu. Lễ bộ tả thị lang, gia tăng Ngự sử đài, Đô ngự sử, (Tam phẩm).

Ngô Nhân Triệt, tự Mạc Hiên, hiệu Đức Thịnh tiên sinh, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1607). Bia số 26 QTG, 7 BN, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Thái thượng tự khanh, Thái bảo. Lê Thái Bá (cháu nội Ngô Nhân Hải, con Ngô Nhân Trừng, cha Ngô Nhân Tuấn) 

Ngô Trí Tri (1537-1628), tự Hoàng Phúc Quảng tiên sinh, đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1592) Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Bia số 21 QTG, chức Mậu lâm lang trung. Quảng Nam đạo giám sát ngự sử, tặng Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, gia phong Tả thị lang Thái bảo Khánh diễn Bá. Khâm mông sắc phong Quang ý dực bảo trung lương, gia tăng Trác vỹ Thượng đẳng thần.

Ngô Mậu Cử: Tri châu Minh Linh.

Đời thứ 12: Ngô Vi Bàn (1602-1674) tự Vi Phu, hiệu Thủ Thường, thuỵ Đôn Lễ tiên sinh, chức: Quang tiến thân lộc đại phu, Nghệ An đẳng sứ, Tán trị thừa sứ ty, Tham nghị Mỹ trung Nam (Tam phẩm).

Ngô Viết Viêm, chức Tham nghị.

Ngô Vi Dự, hiệu Hiển Đức tiên sinh, chức Tri huyện huyện Tam Nông, Đoái xuyên Tử.

Ngô Vi Đạt, chức Mậu lâm tá lang, Tri phủ phủ Lâm Thao.

Ngô Vi Viêm, hiệu Trung Đạo tiên sinh, chức Mậu lâm Lại bộ kiêm Khảo thanh ty lang trung, phong tặng Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Hộ bộ Tả thị lang, gia tăng Ngự sử đài Đô ngự sử, Thế hiển Hầu. (Ngũ phẩm).

Ngô quý Công tự Hoằng Mẫn, hiệu Trí Trung tiên sinh, chức Tướng sĩ lang Cao Bằng phủ nho học huấn đạo.

Ngô Nhân Tuấn (1596…): đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1640) Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) bia số 35 QTG, chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Công. Phong lộc Hầu.

Ngô Nhân Dương: đỗ Hương Cống, làm Tri phủ Thông Hoá.

Ngô Phúc Nham, làm Tú lâm cục.

Ngô Phúc An: đỗ Hương Cống, làm Tri huyện.

Ngô Nhân Do: làm Thiên khang giảng dụ.

Ngô Nhân Xuyên: làm Tú lâm cục.

Ngô Trí Trung (1556….). Tứ trường. Triều vân Nam.

 Ngô Trí Hoà (1565-1626), hiệu Tĩnh Uyên tiên sinh, đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1592). (con Ngô Trí Tri phụ tử đồng khoa) Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) bia số 21 QTG, chức Hiệp mưu tá lý Dực vận tán trị công thần. Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Hộ bộ Thượng thư, kiêm Quốc tử giám tế tửu, Thiếu bảo, Phú xuân Hầu. Khi mất tặng Xuân Quận Công. Khâm mông sắc phong Tuấn lương Quang ý Dực bảo trung hưng, gia tăng Trác vỹ thượng đẳng thần.

Đời thứ 13: Ngô Vi Vỹ (1640-1697) tự Vi Minh, hiệu Phác Nhã tiên sinh, chức Tướng sĩ lang Đoan Hùng phủ, huấn đạo.

Ngô Vi Nho (1659….): Tiến sĩ khoa Giáp Tuất niên hiệu Chính Hoà 15 (1694) đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Bia số 53 QTG, (trước đã đỗ khoa Sĩ Vọng) chức Hành đài Hải Dương giám sát ngự sử.

Ngô quý Công, tự Ôn Cung, thuỵ Trí Hằng tiên sinh, làm Cẩn sự Tá lang Tri huyện huyện Lệ Giang, kiêm Văn hội câu đương, Hương sư.

Ngô quý Công, hiệu Nhã Thực tiên sinh, chức Thức trung thư Hải Dương, kiểm sát sứ ty nha môn. Đề lại.

Ngô Phúc Quý, hiệu Tiết Hạnh tiên sinh, chức Đại phu Tráng tiết tướng quân thị vệ, Trung uý phong tăng Chỉ huy thiêm sứ, Lâm vũ Hầu.

Ngô Hiệu: đỗ Hương Cống, làm Tri huyện.

Ngô Diệu: đỗ Hương Cống, làm Tri phủ.

Ngô Phúc Hưng: đỗ Hương Cống, làm Tri huyện.

Ngô Nhân Kính: đỗ Tú , làm Huyện thừa huyện Hiệp Hoà.

Ngô Sĩ Tuấn: hiệu Khoan Hậu tiên sinh, chức Phụng thụ Sơn Tây đẳng sứ Thanh bình, Hiến sát sứ ty, Hiến sát phó sứ. Văn lý Nam.

Ngô Sĩ Vinh (1596….): Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646) đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Bia số 37 QTG. Làm quan Tự khanh, phong Đôn hậu tán trị công thần, Đốc đồng Tả thị lang. Lý hải Hầu. (Ông nội Ngô Công Trạc và Ngô Hưng Giáo).

Ngô Sĩ Tín: Nho sinh Tri huyện.

Đời thứ 14: Ngô Vi Thực (1663…) huý Đảng, tự Dĩnh Khanh, thuỵ Mẫn Đạo, hiệu Minh Trí tiên sinh. Tiến sĩ khoa Tân Mùi niên hiệu Chính Hoà 12 (1691), đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp). Bia số 52 QTG, chức Lễ khoa Đô cắp sự trung. Phụng sai tuyên hưng đẳng sứ Đốc đồng quan. Mất khi lên đốc chiến ở Cao Bằng.

Ngô Vi Thủ, tự Ước, thuỵ Thanh Tiết tiên sinh. Nho sinh trúng thức, đỗ đầu khoa Hoành Từ, làm quan Tri huyện huyện Nam Xương.

Ngô Vi Ngó, đỗ Cử Nhân, làm Thông phán Tri phủ phủ Gia Hưng.

Ngô quý Công, tự Đôn Tín, hiệu Nhã Thực tiên sinh, làm Tiến công thứ lang, Tri huyện huyện Vĩnh Khang, tước Thanh Trung Tử.

Ngô Phúc Minh, tự Vi Minh, hiệu Phúc Hiền tiên sinh, làm Cung đại phu.

Ngô quý Công, hiệu Minh Đạt tiên sinh, làm Thức trung thư đề lại huyện Bình Lục.

Ngô Công Trạc (1662…): Tiến sĩ khoa Giáp Tuất niên hiệu Chính Hoà 15 (1694). Bia số 53 QTG, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Làm quan giám sát, Hiến sát sứ (cùng khoa với Tiến sĩ Ngô Vi Nho).

Ngô Hưng Giáo (1666…): Tiến sĩ khoa Canh Dần niên hiệu Vĩnh Thịnh 6 (1710), đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Bia số 58 QTG. Thi xong chưa kịp vinh quy thì mất (em Ngô Công Trạc).

Đời thứ 15: Ngô Thanh Tu, tự Bỉnh Tắc, là Kim tử vinh lộc đại phu. Hồng lô tự khanh.

Ngô Danh Công: tự Trọng Nghĩa, hiệu Thanh Nhạc, thuỵ Hiếu Dũng Lạc Thiện tiên sinh, làm Phấn lực tướng quân. Kiêm Giáp hội Văn hội câu đương.

Ngô quý Công: hiệu Gia Tân tiên sinh, chức Mậu lâm lang trung, Hải Dương đẳng sứ, Thanh hình hiến sát sứ ty, Hiến sát phó sứ.

Đời thứ 16: Ngô Vi Nhân, tự Đôn Hậu, hiệu Hồng Lĩnh tiên sinh. Chức Tiến công thứ lang, Huyện thừa huyện Kim Sơn.

Ngô Thanh Thận, làm Thanh hình hiến sát sứ Hải Dương.

Ngô Vi Chiểu, huý Rở, hiệu Thuần Hiệu tiên sinh, chức Tri huyện huyện Phúc Lộc.

Ngô Trực Nghị, làm Huyện thừa huyện Điện Bàn.

Ngô Vi Quý, tự Dũng Hoà, hiệu Đạo Sung tiên sinh, Đặc tiến tiến sĩ năm Đinh Dậu (1777), chức Kim tử vinh lộc đại phu Hộ bộ Tả thị lang, Phụng sung Bắc sứ, Đông các đại học sĩ, Khâm sai hiệp trấn Lạng Sơn, tước Thanh phong Hầu.

Ngô Vi Chí, tự Kim Xuyến, hiệu Phúc Mậu tiên sinh, là Hương trung Hội lão kiêm Câu đương.

Đời thứ 17: Ngô Vi Trí (Vàng), tự Nhạo Thuỷ, hiệu Tuần Lý tiên sinh, chức Triều liệt Đại phu, Hộ khoa Đô cấp sự trung, tước Trí Lược Tử.

Ngô Vi Lộ, tự Đức Tiến, hiệu Phúc Thiện phủ quân, là Hương trung lão bàn kiêm Câu đương.

Ngô Kế Phiên, tự Vi Chân, hiệu Phúc Thận phủ quân.

Đời thứ 18: Ngô Vi Trạch, hiệu Phúc Chính tiên sinh, chức Án sát xứ ty, tước Chánh cửu phẩm.

Ngô Vi Đề, hiệu Thanh Lương tiên sinh, chức Lại mục phủ Hoài Đức.

Ngô Vi Rực, hiệu Hằng Trai tiên sinh, chức Tri huyện huyện Việt Yên.

Ngô Vi Cẩn: Nho sinh.

Ngô Vi Quang (Sơn), hiệu Nghiêm Trực phủ quân, là Quan viên phụ sứ.

Đời thứ 19: Ngô Vi Lâm, tự Thành Đạt, hiệu Quế Hải tiên sinh, chức Tri huyện huyện Văn Lâm.

ĐÓNG GÓP CỦA HỌ NGÔ VI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ QUÊ HƯƠNG (Dòng Tả Thanh Oai. Đất tổ của họ Ngô Vi đại tộc).

A.Lão thành cách mạng.

Ngô Vi Kha(1917-1997)chi trưởng.trưởng ban kiến thiết ĐH y HN.

Ngô Vi Tâm(1916-1995)chi 3(bùi Xá).Tỉnh uỷ viên tỉnh Lao kay.

Ngô Vi Diện:(1918-)chi 3(Bùi Xá)phó giám đốc ty TN tỉnh Hà Giang.

Ngô VI Đẩu:chi 3(TTO)Bí thư đảng uỷ xí nghiệp.

B.Bà mẹ Việt Nam anh hùng:

nguyễn Thị Kén :Chi 3, mẹ liệt sĩ Ngô Vi Chuông.

C.Cán bộ cao cấp:

Ngô Vi Hùng:chi 2, Phó giáo sư, phó tiến sĩ, Đại tá bác sĩ quân y.

Ngô Vi Luật: chi 2, Chuyên viên viện sử Việt Nam.

Ngô Vi Hải: chi 2, Tiến sĩ, Bác sĩ quân y.

Ngô Vi Diện: chi 3, Phó giám đốc công ty thương nghiệp tỉnh Hà Giang.

Ngô Vi Khoát: chi 3, Kỹ sư cao cấp Viện cơ điện Bộ NN và PTNT.

Ngô Vi Phát: chi 3, Kỹ sư Giám đốc công ty giống cây trồng tỉnh Yên Bái.

Ngô Thị Đắc: chi 3.Thường vụ tỉnh uỷ,Chủ tịch liên đoàn lao động.Trưởng ban dân vận tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngô Vi Tâm:chi 3.Tỉnh uỷ viên,Trưởng ty tài chính tỉnh Lao Kay.

Ngô Vi Thiện:chi 3,Giáo sư lịch sử quân sự

Ngô Vi Hoành:chi 3,Đại tá quân giới Bộ quốc phòng.

Ngô Vi Đại:chi 3,Đại tá bác sĩ quân y.

Ngô Thị Chinh:chi 3,Phó chủ tịch HĐNd tỉnh Yên bái.

Ngô Minh Khải:Đại tá tiến sĩ KHKT ,Trưởng phòng HTQT.

Ngô Vi Cát:chi 3,Chuyên viên.

Ngô Xuân Huề:chi 6,Cục trưởng cục dự trữ nhà nước.

Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác):

D.Trình độ đại học:

Ngô Vi Quang:chi 1,Kỹ sư xây dựng

Ngô Vi Tuân:chi 2,Bác sĩ y khoa.

Ngô Vi Bình:chi 2,Đại học sư phạm.

Ngô Thị Hoà:Đại học sư phạm.

Ngô Minh Thu:chi2,Đại học tổng hợp.

Ngô Hoài Nam:chi 2,Đại học Bách khoa.

Ngô Thị Ngọc Mai:chi 2,Đại học luật.

Ngô Vi Hiển:chi 2,Kỹ sư Công nghiệp Dệt.

Ngô Vi Mạnh:chi 3,Kỹ sư điện tử.

Ngô Thị Nam:chi3,Cử nhân kinh tế.

Ngô VI Long:chi 3,Cử nhân luật.

Ngô Thị Anh Nguyệt:chi 3,Cử nhân báo chí.

Ngô Kim Thanh:Đại học.

Ngô Hồng Toán:chi3,Cử nhân xây dựng.

Ngô Kim Sơn:chi 3,Đại học tài chính.

Ngô Vi Năng:chi 3,Bác sĩ,Phó giám đốc,Thầy thuốc ưu tú.

Ngô Thị Vân Anh:chi 3,Cử nhân kinh tế.

Ngô Minh Khiêm:chi 3,Thủ khoa thi đại học 1975 tốt nghiệp tại Liên Xô.

Ngô Thị Chúc:chi 3,Đại học tài chính.

Ngô Mạnh Hà:chi 3,Cử nhân ngân hàng.

Ngô Quang Hiệp:chi 3,Đại học Bách khoa.

Ngô Thị Hiền:chi 3,Đại học tài chính.

Ngô Vi Long:chi 3,Cử nhân luật.

Đ.Các vị trí Đảng và chính quyền cơ sở.

Ngô Vi Kha:chi trưởng.trưởng ban kiến thiết.Trường đại học y Hà Nội.

Ngô Vi Kiên:chi2,Đốc học trường Lý Thường Kiệt Hà Nội.

Ngô Vi Cường:chi 2,Phó giám đốc công trình đô thị Hà Nội.

Ngô Vi Toàn:chi6,Nguyên Bí thư Đảng uỷ xã Tả Thanh Oai.

Ngô Vi Kim:chi 6,Nguyên Chủ tịch xã Tả Thanh Oai.

Ngô Vi Dũng:chi 2,Hiệu trưởng trường phổ thông Cát Linh.

Ngô Vi Mạo:chi 3,Chánh văn phòng công an tỉnh Yên Bái.

Ngô Kim Tính:Giám đốc công ty xây dựng tỉnh Yên bái.

E,Gương hy sinh xả thân vì Tổ quốc.

Liệt sĩ:

Ngô Vi Trường:chi 1,hy sinh trong kháng chiến chống pháp.

Ngô Vi Dần:chi 3,hy sinh tại mặt trận Điện Biên Phủ.

Ngô Vi Chuông.chi 6

Ngô Vi Thành:chi 3

Ngô Vi Ái:chi 3

Ngô Vi Thận:chi 5

Ngô Vi Lan:chi 6

Ngô Liên Hiệp:chi 6

Thương binh:

Ngô Vi Kha:chi 2,chống Pháp

Ngô Vi Thắng:chi 5,chống Mỹ

Ngô Vi Bình:chi 4 chống Mỹ

Ngô Vi Hùng:chi 8,chống Mỹ.

10 - HỌ NGUYỄN DUY.

Trong phả chữ Hán ghi năm 1788 có cụ Phúc Mẫn quan võ đời Cố Lê được tặng phong tước “Nam”

           Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác):

1 – Nguyễn Thị Hương: Cử Nhân tiếng Anh.

2 – Nguyễn Duy Hưng: Cử Nhân quản trị du lịch năm 1973.

3 – Nguyễn Thị Hồng Vân: Cử Nhân ngoại ngữ năm 2002.

4 – Nguyễn Thị Ngọc Bích: Cử Nhân sư phạm.

5 – Nguyễn Duy Tuấn Ninh: Cử Nhân ĐH du lịch.

6 – Nguyễn Thị Quỳnh Nga: Cử Nhân ĐH du lịch.

7 – Nguyễn Duy Mạnh Cường: Cử Nhân ĐH quản trị kinh doanh.

8 – Nguyễn Thị Thu Hiền: Cử Nhân kinh tế quốc dân.

9 – Nguyễn Thị An: Cử Nhân sư phạm văn.

10 – Nguyễn Duy Thành Nam: Đại học Viễn thông.

11 - HỌ NGUYỄN ĐỨC             

1 -Nguyễn Đức Học: 1976 ĐH Lâm nghiệp, Kỹ sư cơ khí, ngành công nghiệp rừng.

2 -Nguyễn Đức Ngọc: 1978 ĐH Thương nghiệp (đã mất).

3 -Nguyễn Đức Thái: 1986 Học viện Hậu cần (Đại tá Quân đội).

4 -Nguyễn Đức Thắng: 1993 Học viện Chính trị (cấp chiến dịch, chiến thuật), 1999 Thạc sĩ Khoa học xã hội & Nhân văn (Đại tá Quân đội).

5 –Nguyễn Đức Lợi: 2001 ĐH Tài chính - kế toán.

6 -Nguyễn Đức Khánh Toàn: 2004 ĐH…Khoa học máy tính.

7 -Nguyễn Đức Thịnh: 2004 ĐH Kiến trúc.

8 -Nguyễn Thị Duyên: 2004 ĐH Sư phạm Hà Nội, ngành ngữ văn.

9 -Nguyễn Thị Nguyệt: 2004 ĐH Thương mại, ngành Quản trị kinh doanh.

10 -Nguyễn Đức Thịnh: 2005 ĐH Nông nghiệp I Hà Nội, ngành Thú y.

11 -Nguyễn Đức Tiến: 2005 ĐH mở Hà Nội, ngành Luật kinh tế.

12 -Nguyễn Đức Vượng: 2005 ĐH Bưu chính viễn thông, ngành Điện tử viễn thông; 2006 ĐH Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội, Tiếng Anh.

13 -Nguyễn Đức Chiều: 2006 Học viện Hậu cần.

14 -Nguyễn Hồng Hạnh: ĐH Ngoại – ĐHQG Hà Nội, Tiếng Anh.

15 -Nguyễn Đức Thắng: 2009 Đại học Luật.

16 -Nguyễn Thị Hoàn: ĐH Kinh tế quốc dân, ngành Kế toán.

17 -Nguyễn Thị Ngọc Mai: ĐH Kinh tế ở Singgapo, ngành Quản lý – Du lịch & Khách sạn.

12 - HỌ NGUYỄN KHAI KHOA

VĂN BIA ĐÁ dựng ở lăng mộ ngõ Đình Hoa Xá:

“Nguyễn Tộc Ngũ Đại Tổ Bảng Nhãn Nguyễn Giác.”

“Cụ thiên cư Thắng Lãm, huyện Thanh Oai, đỗ Bảng Nhãn triều Hồng Đức 15 Giáp Thìn khoa 1484 năm 30 tuổi hiệu là Minh Ban tiến sinh, chức Hình Bộ Tả Thị Lang, tước Gia Hành Đại Phu. Tổ tỷ hiệu Từ Yến phu nhân.

 Cụ là hậu duệ đời thứ năm của đệ nhất đại Thuỷ Tổ khảo Nguyễn Phúc Vĩnh nguyên quán Đồng Dương, đỗ Hoành Từ khoa đời Trần Thiệu Khánh 1370, kỵ ngày 24 tháng Tư, Tổ tỷ huý là Túc, hiệu là Tiềm Đức kỵ ngày 27 tháng Năm, sinh ra đệ nhị đại Tổ khảo tự Dương Khê huý Nguyễn Đổng đỗ nho sinh kỵ ngày 26 tháng Chín, Tổ tỷ huý là Quyên hiệu là Từ Thắng kỵ ngày 14 tháng Mười một. Sinh ra đệ tam đại Tổ khảo tự Ngư Ẩn huý là Nguyễn Hoạt, đỗ Hiệu sinh, Tổ tỷ hiệu Đức Chinh đã sinh sống và mất tại Triều Khúc.

Phụ thân của cụ Nguyễn Giác là đệ tứ đại Tổ khảo Nguyễn Hồ, thuỵ là Dưỡng Hiệu, đỗ khoa Hoành Từ (triều Lê - Quang Thuận 1460-1469), làm quan Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, chức Thừa chính tỉnh Nghệ An, Trụ Quốc tướng công tước Dụ Ân Hầu. Cụ thiên cư từ Triều Khúc về Tả Thanh Oai, kỵ ngày 10 tháng Tám. Tổ tỷ hiệu Từ Ý kỵ ngày 13 tháng Chạp, sinh ngũ nam nhất nữ, trưởng tử mất sớm còn tứ nam là Đệ ngũ đại Tổ khảo lập ra tứ chi.

-         Thiếu Tổ chi Giáp là cụ Nguyễn Mô thuỵ là Thanh Khê đỗ khoa Hoành Từ, Canh Tí (Hồng Đức 1480) chức Thái Thú Trường An kỵ ngày 23 tháng Chín. Tổ tỷ hiệu Từ Đạt kỵ ngày 9 tháng Chín.

-         Thiếu Tổ chi Ất là cụ Nguyễn Giác tự là Minh Ban thiên cư Thắng Lãm (Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Đông). Đỗ Bảng Nhãn triều Hồng Đức 15 khoa Giáp Thìn 1484 năm 30 tuổi, Hình Bộ Tả Thị Lang, tước Gia Hình Đại Phu. Tổ tỷ hiệu là Từ Yến phu nhân, Thuỷ Tổ họ Nguyễn Viết.

-         Thiếu Tổ chi Bính là cụ Nguyễn Trọng Hậu chức Đồng Mỗ quan kỵ ngày 18 tháng Giêng. Tổ tỷ hiệu là Từ Huệ nhụ nhân.

-          Thiếu Tổ chi Đinh cựu phả không tường duệ hiệu.

-         Tổ cô Nguyễn Thị Phượng, Lân Nữ Công Chúa kỵ ngày 3 tháng Chạp.”

MẶT SAU BIA:

Đệ lục đại Tổ khảo: cụ Nguyễn Giác lập nghiệp tại Thắng Lãm, sinh tam nam nhất nữ. Nữ tử mất sớm.

-         Trưởng tử là Vị Tông tiên sinh, hiệu là Cự Gia, đỗ Tú Lâm Cục năm 1500 làm Phán quan thời Lê suy, cụ bà là Từ Chinh sinh ra cụ Thống Chử.

-         Đệ nhị tử là Thanh Phái tiên sinh làm Lang y.

-         Đệ tam tử là Đăng Tự tiên sinh, ở nhà dậy học.

 Cựu phả ghi: tại Thắng Lãm hiện còn nhà thờ và dòng dõi cụ.

 Đệ thất đại Tổ khảo: cháu đích tôn của Tổ Nguyễn Giác là cụ Thống Chử kỵ ngày 3 tháng Ba, tự là Thanh Môn đỗ Cống sinh, theo bác là Nguyễn Lãng phù Lê diệt Mạc năm 1548-1553 về Tả Thanh Oai mang theo mộ của ông bà nội và cha mẹ về táng tại mả Sổ, ở đây song táng Tổ khảo Nguyễn Giác, Tổ tỷ Từ Yến. Cụ bà hiệu là Từ Thục kỵ ngày 1 tháng Tư.

Đệ bát đại Tổ khảo: tự là Cao Thượng, hiệu là Văn Phái đỗ Cống sinh 1560 thời Trịnh Nguyễn, văn hay, tích đức và làm việc thiện kỵ ngày 5 tháng Năm. Tổ tỷ hiệu là Từ Thuận kỵ ngày 15 tháng Năm.

Đệ cửu đại Tổ khảo: tự là Thăng Cùng đỗ Sinh đồ 1600 kỵ ngày 15 tháng Bẩy. Tổ tỷ hiệu là Tiết Hạnh kỵ ngày 2 tháng Bẩy.

Đệ thập đại Tổ khảo: tự là Truy Viễn đỗ Sinh đồ 1630 kỵ ngày 10 tháng Tám. Tổ tỷ hiệu là Từ Nhu kỵ ngày 15 tháng Tám.

Đệ thập nhất đại Tổ khảo: tự là Tiên Đức, hiệu là Vọng Phiệt Xuân Đài, đỗ Sinh đồ 1660 kỵ ngày 9 tháng Chín. Tổ tỷ hiệu là Từ Mỵ kỵ ngày 10 tháng Mười.

Đệ thập nhị đại Tổ khảo: là cụ Quang Thái tự là Nguyên Thủ đỗ Nho sinh 1690 kỵ ngày 15 tháng Mười. Tổ tỷ hiệu là Từ Đoan kỵ ngày 28 tháng Mười một.

Đệ thập tam đại Tổ khảo: là cụ Di Năng, hiệu là Đông Thuận đỗ Nho sinh 1750 làm Lang y, kỵ ngày 12 tháng Tư. Tổ tỷ hiệu là Từ Hiếu kỵ ngày 27 tháng Chín.

Đệ thập tứ đại Tổ khảo: là cụ Hữu Hằng, hiệu là Tự Nghĩa kỵ ngày 27 tháng Chín. Tổ tỷ hiệu là Từ Lý kỵ ngày 17 tháng Chín, mộ ở mả Gạo.

Đệ thập ngũ đại Tổ khảo: là Nguyễn Văn Hấn, kỵ ngày 22 tháng Giêng. Tổ tỷ là Ngô Thị Xuân hiệu là Từ Hoà kỵ ngày 15 tháng Tư (mộ cụ Hấn tại giữa đê nhà máy gạch Đại Thanh đã xây thành lăng).

THẬP LỤC ĐẠI TỔ PHÂN THÀNH BA NGÀNH:

1 Nguyễn Văn Trạch (11-2), Ngô Thị Thanh (23-2), Đào Thị Thông (18-3), Nguyễn Thị Khanh (3-6).

2 Nguyễn Văn Thắng.

3 Nguyễn Biện Tiêm.

Thập thất đại Tổ.

1 Nguyễn Oai (12-6), Nguyễn Thị Con (24-1).

2 Nguyễn Tiến (23-7), Nguyễn Thị Cẩm (2-7).

3 Nguyễn Khoa.

4 Nguyễn Nho Chỉnh.

Thập bát đại Tổ:

1 Nguyễn Mỹ (27-10), Ngô Thi Nghiêm (4-2).

2 Nguyễn Vị (15-12), Nghiêm Thi Điền (15-2).

3 Nguyễn Tất Đạt (19-4), Nguyễn Thị Đạo (27-12), Lê Thị Lai (16-4), Trịnh Thị Lệ (2-3).

4 Nguyễn Văn Truyện (29-11), Ngô Thị Mùi (19-2).

5 Nguyễn Văn Nhuận (9-4), Ngô Thi Sen (15-2).

6 Nguyễn Văn Thanh (cả Nhớn 23-7),Nghiêm Thị Hiên (21-4).

7 Nguyễn Văn Thông (Thông còi), Nguyễn Thị Đối (25-12).

8 Nguyễn Văn Đạm (Tư Ngảnh 12-2).

Lăng Tổ Bảng Nhãn Nguyễn Giác có đôi câu đối do cụ Nguyễn Thuận tự Thanh Sơn, lão thành cách mạng bái soạn:

Bảng Nhãn Giáp Thìn khoa phương danh lưu hậu thế.

Thị lang triều Hồng Đức trí lực vệ sơn hà.

LĂNG THẬP NGŨ ĐẠI TỔ KHẢO.

 Nguyễn Quý Công huý Văn Hấn (1790-1873). Văn nhân triều đại nhà Tây Sơn (vua Quang Trung), khu Lăng mộ xưa kia đứng trên một thửa đất của Họ rộng khoảng hai sào Bắc bộ ở xứ Mả Lốt. Từ năm 1960 nhà nước xây nhà máy gạch Đại Thanh vẫn tôn trọng không xâm phạm ngôi Lăng Tổ họ Nguyễn. Tới nay khu Lăng mộ chỉ còn khoảng một sào Bắc bộ vẫn tồn tại linh thiêng, nhân dân ở các xóm gần đấy vẫn đến hương khói cầu cúng mồng một, ngày Rằm, ngày Tết.

LĂNG THẬP LỤC ĐẠI TỔ NGUYỄN VĂN TRẠCH (1823-1908).

Nghĩa quân Cần Vương kháng Pháp cuối thế kỷ XIX có đôi câu đối Nôm như sau:

Hịch Cần Vương vẫy gọi theo trưởng huynh diệt thù.

Gương hiếu trung vời vợi hậu thế noi ngàn thu.

(Nguyễn Thanh Sơn, lão thành cách mạng bái soạn).

Lăng Phúc Thành thập thất đại Tổ khảo ở mả Xổ có đôi câu đối như sau:

“Hà Bắc nho thương thành phú giả,

Nhuệ Tả hương nông đắc hào hoa.”    

           Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác):

           Khoa Bảng Họ Nguyễn Khai khoa:

Stt -Các cụ có khoa bảng -khoa danh chức vụ -phẩm tước -niên đại -niên hiệu -triều vua:

  1. Cụ Điện các, hiệu Phúc vĩnh: Đỗ hoành từ khoa, Hiển cung đại phu -Tức tiến sĩ, Điện các học sĩ -Năm Canh Tuất (1370) -Thiệu khánh năm đầu -Trần nghệ tông. 

 2. Cụ Nguyễn Chỉ: -Đỗ hội nguyên, Tiến sĩ Hoàng Giáp -thi Đình đỗ nhị giáp -Năm Quý Dậu 1453 -Thái Hoà thứ 11 -Lê nhân tông. Cụ có con là tiến sĩ kế khoa (tiến sĩ Khánh Dung).

3. Cụ Trụ Quốc: tức cụ Thừa Chính -Đỗ Hoành Từ khoa -Tức tiến sĩ -Năm Canh Thìn 1460 -Quang Thuận thứ 10 -Lê Thánh Tông. Cụ giữ chức tổng đốc ở Nghệ An, sau vào triều phụ chính, cụ được phong hầu, tước phong là Dụ ân Hầu Trụ Quốc, cụ có 2 con kế khoa đồng triều.

4. Cụ Trường An Phủ, Nguyễn Mô hiệu Thanh Khê, tổ chi giáp -Đỗ Hoành từ khoa -Tức Tiến sĩ -năm kỷ sửu 1469 -Quang Thuận thứ 10 –Lê Thánh Tông. Cụ giữ chức Chi phủ, phủ Trường An, em cụ đỗ Bảng nhãn

5. Cụ Thiếu Bảo, hiệu Thận Trai có con kế khoa đồng triều -đỗ tam giáp Tiến sĩ -Lễ bộ Thượng thư nhập thị kính diên  kiêm trưởng hàn lâm viện phụng sứ, Thiếu Bảo công thần -Năm Nhâm Thìn 1472 -Hồng Đức thứ 3 -Lê thánh tông.

6. Cụ Tiến sĩ: Nguyễn Khánh Dung -Đỗ đệ tam giáp tiến sĩ – Năm mậu tuất 1478 -Hồng Đức thứ 9 -Lê thánh tông.

7.Cụ Bảng Nhãn, Nguyễn Giác hiệu Minh Ban -Đỗ đệ nhất giáp đệ nhị danh cụ là Hoàng đại phu giữ hình bộ tá thị lang -Năm Giáp Thìn 1484 -Hồng đức thứ 15 -Lê thánh tông.

8.Cụ Tiến Sĩ: Nguyễn Nghiễm -Đỗ đệ tam giáp tiến sĩ, mới ra nhận chức cụ là lễ bộ tá thị lang, sau thăng Thừa tướng xuất tướng nhập tướng - Năm Quý Sửu 1494 -Hồng Đức thứ 24 -Lê Thánh Tông.

9. Cụ Tiến sĩ: Nguyễn Gia Du -Đỗ đệ tam giáp tiến sĩ cụ giữ chức phú doãn -Năm Ất Dậu 1505 -Đoan khánh thứ nhất -Lê Uy Mục.

10. Cụ Đốc thị Hầu, Nguyễn Tông Trình thuỵ Song Ngọc -Đỗ đệ tam giáp Tiến Sĩ, cụ là đốc trấn Lạng Sơn, sau về triều là Đông các Hiệu thư tặng thị Độc, cụ được phong Hầu, tước phong Đốc thị Hầu – Năm giáp tuất 1754- Cảnh Hưng thứ 15- Lê Hiển Tông.

11. Cụ Nguyễn Văn Giáp, cụ có tên huý là Nguyễn Thường, thuỵ Chu Cát tiên sinh -Đỗ Cử nhân (năm Giáp Tý 1864 -Tự đức thứ 15 -Triều Nguyễn). Làm quan: Bố chính tỉnh Sơn Tây, sau thăng là Tổng đốc tam Tuyên, năm Ất Dậu 1885, cụ khởi nghĩa đánh Tây, nghĩa quân giữ được từ Vĩnh Phú đến biên giới, được 8 năm đến năm Quý Tị (Thành Thái) thứ 5 tức là năm 1893, cuộc khởi nghĩa thất bại, cụ về vùng Lâm Thao Vĩnh Phú lánh nạn đến nay không có tin tức về thân thế cùng gia đình cụ ở đâu?.

12. Cụ Nguyễn Quỳ (Nhuệ Xuyên tiên sinh) -Đỗ Cử nhân giữ chức giáo thụ Hà Nam- Năm Đinh Dậu 1897 -Thành Thái thứ 9 -Triều Nguyễn.

ĐẠI KHOA HỌ NGUYỄN Ở TẢ THANH OAI.

13. Cụ Nguyễn Chỉ, năm Quý Dậu 1453 - đỗ Hội Nguyên nhị giáp, Tiến sĩ Hoàng Giáp –Thái Hoà 11 - Triều Lê Hy Tông.

14. Cụ Nguyễn Hồ, năm Canh Thìn 1460 –đỗ Hoành Từ khoa - Quang Thuận năm đầu- Lê Thánh Tông.

15. Cụ Nguyễn Mô, năm Kỷ Sửu 1469 -đỗ Hoành Từ khoa - Quang Thuận thứ 10-Lê Thánh Tông.

16. Cụ Nguyễn Khánh Dung, năm Mậu Tuất 1478- Đệ tam giáp Tiến sĩ- Hồng Đức thứ 9 –Lê Thánh Tông.

17. Cụ Nguyễn Chỉ có con kế khoa là Tiến sĩ Nguyễn Khánh Dung -đỗ Hội nguyên thi Đình đỗ đệ giáp Tiến sĩ Hoàng Giáp -năm Quý Dậu 1453 -Thái Hoà thứ 11 -Lê Nhân Tông.

18. Cụ Thừa chính cụ có 2 con kế khoa đồng triều -Đỗ khoa Hoành Từ - Tổng trấn Nghệ An sau vào triều phụ chính tước phong Dụ ân Hầu Trụ Quốc -năm Canh Thìn 1460 -Quang Thuận năm đầu -Lê Thánh Tông.

19. Cụ Thanh Khê: bố và anh em kế khoa -đỗ khoa Hoành Từ, chi phủ Trường An -năm Kỷ Sửu 1469 -Quang Thuận thứ 10 -Lê Thánh Tông.

20. Cụ Nguyễn Khánh Dung -đỗ đệ tam giáp Tiến sĩ -năm Mậu Tuất 1478-Hồng Đức thứ 9 -Lê Thánh Tông.

21. Cụ Minh Ban: huý là Nguyễn Giác, cha và anh kế khoa đồng triều -đệ nhất giáp đệ nhị danh bản nhãn, Hình bộ tả thị lang -năm Giáp Thìn 1484 -Hồng Đức thứ 15 -Lê Thánh Tông.

KHOA CỬ HỌ NGUYỄN KHAI KHOA TẢ THANH OAI.

Thời thuộc Pháp trước năm 1945

1 – Nguyễn Quế sinh năm 1901 đỗ Cử nhân trường Pháp chính Đông Dương năm 1927.

2 – Nguyễn Bách sinh năm 1905 đỗ Đốc Tờ bác sỹ Y khoa ở Pari năm 1933.

3 – Nguyễn Bính sinh năm 1909 đỗ Đốc Tờ bác sỹ Y khoa ở Pari năm 1939.

Thời Xã hội chủ nghĩa sau  năm 1945.

1 – Nguyễn Quýnh sinh năm 1927 Tiến sĩ, Phó Giáo sư 1984 giảng dậy Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân.

2 – Nguyễn Thuỵ Loan sinh năm 1945 Tiến sĩ , Phó giáo sư 1988 Nhạc Viện Âm nhạc Bungari.

3 – Nguyễn Huyến sinh năm 1937 đỗ Tiến sĩ 1969 ngành Hoá Học , giảng dạy tại Mỹ.

4 – Nguyễn Thuý Quỳnh sinh năm 1976 đỗ Tiến sĩ 2004 Âm Nhạc tại Mỹ.

5 – Nguyễn Khiêm sinh năm 1974 Thạc sĩ 2000, Đại học Giao Thông.

6 – Nguyễn Tất Toại sinh năm 1973 đỗ Thạc sĩ 2003, Viện Hoá Sinh công nghệ thực phẩm tại Pháp.

7 – Nguyễn Thị Thu Hoài sinh năm 1978 đỗ Thạc sĩ 2005 Viện Xây Dựng tại Đức.

8 - Nguyễn Huy Khôi  sinh năm 1983 Thạc sĩ 2009 học viện thể dục thể thao Trung Quốc.

9 – Nguyễn Thị Hằng sinh năm 1927 đỗ Cử nhân, Giảng dậy tại Mỹ.

10 – Nguyễn Đôn sinh năm 1933 đỗ Cử nhân 1963 Đại học Sư Phạm.

11 – Nguyễn Toại sinh năm 1941 đỗ Cử nhân 1964 Đại học Bách Khoa.

12– Nguyễn Anh Tuấn sinh năm 1957 đỗ Cử nhân 1968 Đại học xây dựng.

13 – Nguyễn Tất Thạo sinh năm 1946 đỗ Cử nhân 1969 Đại học Kinh Tế Nông Nghiệp.

14 – Nguyễn Ngọc Đoan sinh năm 1945 đỗ Cử nhân 1970 Đại học Văn Hoá.

15 – Nguyễn Phong sinh năm 1941 đỗ Cử nhân 1971 Đại học Bách Khoa.

16 – Nguyễn Thị Kim Vĩnh sinh năm 1943 đỗ Cử nhân 1972 Đại học xây dựng.

17 – Nguyễn Thị Ninh sinh năm 1944 đỗ Cử nhân 1972 Đại học xây dựng.

18 – Nguyễn Lân sinh năm 1956 đỗ Cử nhân 1976 Đại học Xây Dựng.

19 – Nguyễn Tất Thông sinh năm 1943 đỗ Cử nhân 1978 Đại học Sư Phạm.

20 – Nguyễn Hồng Sơn sinh năm 1957 đỗ Cử nhân 1980 Đại học Xây Dựng.

21 – Nguyễn Thị Phương Minh sinh năm 1959 đỗ Cử nhân 1982 Đại học Sư Phạm.

22 – Nguyễn Thanh Hùng sinh năm 1961 đỗ Cử nhân 1983 Ngoại Thương Luật.

23 – Nguyễn Tố Trinh sinh năm 1963 đỗ Cử nhân 1985 Đại học Sư Phạm.

24 – Nguyễn Minh Dũng sinh năm 1958 đỗ Cử nhân 1986 Đại học Cơ khí 2003 Đại học         Kinh Tế.

25 – Nguyễn Thị Anh Thư sinh năm 1969 đỗ Cử nhân 1990 Đại học Thương Mại.

26 – Nguyễn Mạnh Hùng sinh năm 1969 đỗ Cử nhân 1991 Đại học Bách Khoa.

27 – Nguyễn Thanh Hà sinh năm 1972 đỗ Cử nhân 1991 Đại học Ngoại Thương.

28 – Nguyễn Hồng Lâm sinh năm 1959 đỗ Cử nhân 1993 Đại học Quốc Dân 2000 Đại học Ngoại Ngữ.

29 – Nguyễn Mạnh Thắng sinh năm 1971 đỗ Cử nhân 1993 Đại học Bách Khoa.

30 – Nguyễn Thanh Tùng sinh năm 1972 đỗ Cử nhân 1993 Đại học Tổng Hợp và Kinh Tế Quốc Dân.

31 – Nguyễn Thị Tố Anh sinh năm 1970 đỗ Cử nhân 1995 Đại học Ngoại Ngữ, Kế Toán.

32 – Nguyễn Tố Quyên sinh năm 1972 đỗ Cử nhân 1995 Bác sĩ y khoa ở Mỹ.

33 – Nguyễn Thanh Bình sinh năm 1974 đỗ Cử nhân 1995 Đại học Ngoại Ngữ và Kinh Tế.

34 – Nguyễn Thái Huy sinh năm 1967 đỗ Cử nhân 1996 Đại học Hàng Hải Mascova (LB Nga).

35 – Nguyễn Thị Thi sinh năm 1975 đỗ Cử nhân 1996 Đại học Kinh Tế.

36 – Nguyễn Gia Thái sinh năm 1973 đỗ Cử nhân 1997 Đại học Công Nghệ dệt.

37 – Nguyễn Thị Hiếu Tâm sinh năm 1975 đỗ Cử nhân 1999 Đại học Bách Khoa.

38 – Nguyễn Huy Khoa sinh năm 1977 đỗ Cử nhân   1999 Đại học kiến trúc.

39 – Nguyễn Minh Khanh sinh năm 1978 đỗ Cử nhân 2000 Đại học Ngoại Ngữ.

40 – Nguyễn Tiến Đức sinh năm 1978 đỗ Cử nhân Kinh Tế Đại học Quốc Gia.

41 – Nguyễn Hải Đường sinh năm 1947 đỗ Cử nhân 2001 Đại học Kinh Tế, Kỹ Thuật.

42 – Nguyễn Đĩnh sinh năm 1947 đỗ Cử nhân 2001 Đại học Sư Phạm.

43 – Nguyễn Quỳnh Long sinh năm 1957 đỗ Cử nhân 2001 Đại học Khoa Vô tuyến điện.

44 – Nguyễn Huy Kiên sinh năm 1978 đỗ Cử nhân 2001 Đại học Thương Mại.

45 – Nguyễn Đức Thắng sinh năm 1979 đỗ Cử nhân 2002 Đại học Báo Chí.

46 – Nguyễn Văn Trung sinh năm 1979 đỗ Cử nhân 2002 Đại học Sư Phạm.

47 – Nguyễn Mạnh Cường sinh năm 1979 đỗ Cử nhân 2004 Phân Viện Báo chí.

48 – Nguyễn Quỳnh Trang sinh năm 1982 đỗ Cử nhân 2004 Đại học Ngoại Ngữ.

49 – Nguyễn Đức Lợi sinh năm 1982 đỗ Cử nhân 2004 Đại học Văn Hoá.

50 – Nguyễn Thị Tuyển sinh năm 1982 đỗ Cử nhân 2005 Đại học Ngoại Thương.

51 – Nguyễn Tiến Hưng sinh năm 1983 đỗ Cử nhân 2005 Đại học Giao Thông Vận Tải.

52 – Nguyễn Hồng Hải sinh năm 1983 đỗ Cử nhân 2005 Đại học Luật.

53 – Nguyễn Xuân Quảng sinh năm 1982 đỗ Cử nhân 2006 Đại học Sư Phạm.

54 – Nguyễn Thị Hải Yến sinh năm 1984 đỗ Cử nhân 2006 Đại học Kinh Tế Quốc Dân.

55 – Nguyễn Thị Hiếu Thuận sinh năm 1984 đỗ Cử nhân 2006 Đại học Kinh Tế.

56 – Nguyễn Xuân Mai sinh năm 1968 đỗ Cử nhân 2007 Đại học Văn Hoá, 2009 Đại học Luật.

57 – Nguyễn Thị Tâm sinh năm 1981 đỗ Cử nhân 2007 Đại học Kinh Tế.

58 – Nguyễn Tiến Ngọc sinh năm 1984 đỗ Cử nhân 2007 Đại học Kiến Trúc.

59 – Nguyễn Thị Hiếu Thảo sinh năm 1971 đỗ Cử nhân 2008 Đại học Sư Phạm.

60 – Nguyễn Hồng Vân sinh năm 1985 đỗ Cử nhân 2008 Đại học Luật.

61 – Nguyễn Vân Anh sinh năm 1987 đỗ Cử nhân 2008 Đại học Báo chí.

62 – Nguyễn Việt Anh sinh năm 1987 đỗ Cử nhân 2009 Đại học Thông Tin.

63 – Nguyễn Văn Khải sinh năm 1982 đỗ Cử nhân 2009 Đại học Sư Phạm.

64 – Nguyễn Quốc Quân sinh năm 1985 đỗ Cử nhân 2009 Đại học Nông Nghiệp.

65 – Nguyễn Văn Oanh sinh năm 1983 đỗ Cử nhân 2009 Đại học Tin Học.

66 – Nguyễn Kiên sinh năm 1985 đỗ Cử nhân 2009 Đại học Kiến Trúc.

67 – Nguyễn Thị Hiếu Hạnh sinh năm 1982 đỗ Cử nhân 2010 Đại học Công Nghệ tại Pháp.

68 – Nguyễn Văn Dũng sinh năm 1985 đỗ Cử nhân 2010 Đại học Tin Học.

69 – Nguyễn Minh Châu sinh năm 1985 đỗ Cử nhân 2010 Đại học Thương Mại.

70 – Nguyễn Minh Hiếu sinh năm 1987 đỗ Cử nhân 2010 Đại học Quân Sự.

71 – Nguyễn Văn Huệ đỗ Cử nhân Đại học Bưu chính Viễn Thông.

CHI GIÁP HỌ NGUYỄN KHAI KHOA

Hậu duệ cụ Tổ Nguyễn Lãng khoa cử thời xã hội chủ nghĩa

72 – Nguyễn Hữu Đễ sinh năm 1954 Tiến sĩ Triết học Viện Mác-LêNin.

73– Nguyễn Hữu Sáu sinh năm 1964 Tiến sĩ Y khoa.

74– Nguyễn Hữu Bảy sinh năm 1974 Thạc sĩ kinh tế.

75 – Nguyễn Hữu Tam sinh năm 1941 Cử nhân Đại học Sư Phạm.

76 – Nguyễn Thị Thu Hằng sinh năm 1941 Cử nhân Đại học Sư Phạm.

77– Nguyễn Hữu Vị sinh năm 1947 Cử nhân Đại học Công Đoàn.

78– Nguyễn Hữu Ba sinh năm 1948 Cử nhân Đại học Kinh Tế.

79– Nguyễn Hữu Lưu sinh năm 1952 Cử nhân Đại học Xây Dựng.

80 – Nguyễn Hữu Trọng sinh năm 1954 Cử nhân Đại học Kinh Tế.

81 – Nguyễn Hữu Sơn sinh năm 1957 Cử nhân Đại học Nông Nghiệp.

82 – Nguyễn Hữu Sang sinh năm 1958 Cử nhân Đại học Y khoa.

83– Nguyễn Hữu Lâm sinh năm 1960 Cử nhân Đại học Y Khoa.

84 – Nguyễn Hữu Hùng sinh năm 1964 Cử nhân Đại học Kinh Tế-Luật.

85 – Nguyễn Hữu Hải sinh năm 1966 Cử nhân Đại học Kinh Tế.

86 – Nguyễn Hữu Hải sinh năm 1966 Cử nhân Đại học Sư Phạm.

87 – Nguyễn Hữu Thanh sinh năm 1968 Cử nhân Đại học Sư Phạm.

88 – Nguyễn Hữu Đông sinh năm 1971 Cử nhân Đại học

89 – Nguyễn Thị Thuỷ sinh năm 1973 Cử nhân Đại học Xã Hội và Nhân Văn.

90 – Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1973 Cử nhân Đại học Sư Phạm

91 – Nguyễn Hữu Huấn sinh năm 1975 Cử nhân Đại học Sư Phạm.

92 – Nguyễn Thị Tố Nga sinh năm 1975 Cử nhân Đại học Kinh Doanh.

93 – Nguyễn Thị Thuỷ sinh năm 1975 Cử nhân Đại học Sư Phạm.

94 – Nguyễn Hữu Việt sinh năm 1976 Cử nhân Đại học Bách Khoa.

95– Nguyễn Hữu Toàn sinh năm 1977 Cử nhân Đại học Kinh Tế.

96 – Nguyễn Thị Thuỳ sinh năm 1977 Cử nhân Đại học

97 – Nguyễn Thị Hiền sinh năm 1978 Cử nhân Đại học Mỏ Địa Chất.

98 – Nguyễn Thị Anh sinh năm 1978 Cử nhân Đại học Sư Phạm.

99 – Nguyễn Thị Tiến sinh năm 1978 Cử nhân Đại học Luật.

100 – Nguyễn Hữu Hoàn sinh năm 1979 Cử nhân Đại học Bách Khoa.

101 – Nguyễn Thị Hoài sinh năm 1981 Cử nhân Đại học Xã hội Nhân văn.

102 – Nguyễn Thị Lan sinh năm 1982 Cử nhân Đại học Xây Dựng.

103 – Nguyễn Thị Nga sinh năm 1983 Cử nhân Đại học Ngoại Ngữ.

104 – Nguyễn Hữu Đức sinh năm 1983 Cử nhân Đại học Ngân Hàng.

105 – Nguyễn Thị Huyền Trang sinh năm 1983 Cử nhân Đại học Kinh Tế.

106 – Nguyễn Thị Nga sinh năm 1983 Cử nhân Đại học Kinh Tế.

107 – Nguyễn Hữu Hùng sinh năm 1984 Cử nhân Đại học Đặc Công.

108 – Nguyễn Hữu Cường sinh năm 1984 Cử nhân Đại học

109 – Nguyễn Thị Hằng sinh năm 1985 Cử nhân Đại học Ngoại Ngữ.

110 – Nguyễn Hữu Phương sinh năm 1986 Cử nhân Đại học Ngoại Ngữ.

111– Nguyễn Hữu Cường sinh năm 1987 Cử nhân Đại học Lâm Nghiệp.

112 – Nguyễn Hữu Thắng sinh năm 1988 Cử nhân Đại học Kinh Doanh.

SĨ QUAN QUÂN NHÂN HỌ NGUYỄN KHAI KHOA.

1– Nguyễn Thanh Sơn sinh năm 1927: Đại tá Công an - Lão thành Cách mạng.

2 – Nguyễn Anh Tuấn sinh năm 1957: Trung tá Công an.

3 – Nguyễn Thị Phương Mây sinh năm 1957: Thiếu tá Công an.

4 – Nguyễn Văn Huân : Trung uý quân đội.

5 – Nguyễn Văn Tùng : Thiếu uý quân đội.

LIỆT SĨ

1 – Nguyễn Văn Ất sinh năm 1934 hy sinh năm 1951 trong Kháng chiến chống Pháp.

2 – Nguyễn Văn Kế sinh năm 1940 hy sinh năm 1969 trong Kháng chiến chống Mỹ.

3 – Nguyễn Văn Tý sinh năm 1940 hy sinh năm 1972 trong Kháng chiến chống Mỹ.

4 – Nguyễn Thái Hùng (tức Nguyễn Văn Gia) sinh năm 1926 tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hy sinh 11-4-1971 mặt trận Đường 9 Nam Lào, Cục tình báo.



 

BIÊN SOẠN: Bác sĩ: TƯỞNG VĂN HOÀ.

 Ngày: 16 – 09 – 2011