Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
Làng khoa bảng Tả Thanh Oai (Tập 6/7)
Thứ sáu, 07 Tháng 10 2011 02:24

Làng khoa bảng Tả Thanh Oai (Tập 6/7)

Tiếp theo: KHOA BẢNG, VĂN QUAN, VÕ TƯỚNG, SĨ QUAN, VĂN BIA HIỆN CÓ TRONG CÁC HỌ Ở LÀNG.

13 - HỌ NGUYỄN NHƯ

1-Nguyễn Hồng Thái, có bằng Cử nhân Luật (1998); Cử nhân Kinh tế (2007).

2 -Nguyễn Như Tựa, Cử nhân Viễn thông ĐHBK (2004).

3 -Nguyễn Văn Đình, Cử nhân Giao thông Vận tải (2009).

Danh sách quân nhân:

1 Nguyễn Đăng Đức: Thiếu tá Công an, nghỉ hưu.

2 Nguyễn Hồng Thái: Thiếu tá Công an.

3 Nguyễn Như Hùng: Thượng úy Lục quân.

14 - HỌ NGUYỄN QUANG

1   Nguyễn văn Hoàng       Tốt nghiệp Tiến Sĩ tại Canađa

bộ môn công nghệ thông tin ( tốt nghiệp 2010)

2   Nguyễn Quang Minh      Bằng Đại Học kinh tế xã hội.

3   Nguyễn Thị Cúc             Bằng Đại Học văn hoá thể thao.

4   Nguyễn Thị Hồng Vân   Bằng Khoa Triết ở Mátscơva.

5   Nguyễn Quang Hưng      Bằng Đại học Cảnh sát

6   Nguyễn Quang Sơn         Bằng Đại học Giao thông.

7   Nguyễn Thị Hải               Bằng Đại học Xây dựng.

15 - HỌ NGUYỄN TÁ.

1 Nguyễn Tá Cần nhận năm 2006.

2 Nguyễn Tá                 năm 2007.

16 - HỌ NGUYỄN THANH.

Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác):

1 –Nguyễn Văn Vinh: Đại học, kỹ sư giám đốc xí nghiệp điện máy Hà Nội.

2 –Nguyễn Thanh Hùng: Đại học bách khoa, kỹ sư giám đốc viễn thông Hà Nội.

3 –Nguyễn Văn Nam: Đại học quân sự trường Lục Quân.

4 –Nguyễn Ngọc Bình: Cử Nhân, đỗ thủ khoa Đại học kinh tế quốc dân.

5 –Nguyễn Thị Ninh: Cử Nhân, đỗ thủ khoa Đại học tổng hợp.

17 - HỌ : NGUYỄN THẾ.

VĂN BIA

                                                                         Mặt 1:

                                                      NGUYỄN THẾ TỘC ĐỨC BI KÝ

BIA GHI CÔNG ĐỨC TRUYỀN ĐỜI HỌ NGUYỄN

Bia đàn truy ân hai chi Giáp – Ất1 họ Nguyễn Tộc

Cung kính ghi việc chi giáp

- Cụ Tổ cách 7 đời2 (Hiển thất cao tổ khảo), chức phó sở xứ Nguyễn Quý Công 3 tên tự là Cao Niên, cụ bà hiệu là Tuyên Tĩnh.

- Cụ Tổ cách 6 đời ( Hiển lục cao tổ khảo), Nguyễn Quý Công  tên tự là Chính Công, cụ bà, hiệu là Từ Đức

- Cụ Tổ cách 5 đời ( Hiển ngũ cao tổ khảo), Nguyễn Quý Công  tên tự là Trung Tiết, cụ bà, hiệu là Chinh Thục

- Cụ Tổ cách 4 đời (Hiển tứ cao tổ khảo), Nguyễn Quý Công  tên tự là Đạt Tâm, cụ bà, hiệu là Từ Khánh

- Cụ Tổ cách 3 đời (Hiển tam cao tổ khảo), chức chi bạ, Nguyễn Quý Công  tên tự là Phúc Vinh, cụ bà, hiệu là Thục Tính.

- Cụ Tổ cách 2 đời (Hiển nhị cao tổ khảo), tước văn nhuệ tử Nguyễn Quý Công  tên tự là Phúc Sinh, cụ bà là An Nhân  hiệu là Từ Nhân

- Cụ Hiển cao tổ khảo4 (kị), được phong tặng đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu tán trị thừa chính sứ ti các xứ Tuyên Quang. Tước sỹ trung hầu tên tự là Phúc Liêm, được ban hiệu đôn phác, cụ bà được phong tặng Tự phu nhân, tên hiệu là Từ Cẩn

- Cụ Hiển tằng tổ khảo5 (cụ) chức thừa chính xứ được ấm phong đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu ngự sử đài thiêm đô ngự sử, tước thanh khê hầu Nguyễn Tướng Công tên tự là Phúc Đức, cụ bà được truy thụy, là Hoàng Tông Nữ6 Quận chúa, được ấm phong quận thượng thượng chúa Lê thị tên hiệu là Từ Ôn

- Cụ Hiển tổ khảo 7(ông nội) đỗ đệ tam giác đồng tiến sỹ xuất thân, khoa Ất Mùi niên hiệu Cảnh Hưng triều Lê (1775), đặc tiến kim tử vinh lọc đại phu hành công bộ hữu thị lan, chức tán trị thừa chính sứ, xứ Yên Quảng tước tả khê bá Nguyễn Tướng Công tự là Nam Văn, hiệu là Điềm Khác, cụ bà(cả) được ấm phong là tự phu nhân hiệu là từ hậu; cụ bà (vợ thứ) được ấm phong Huy phu nhân hiệu là Từ Thuận. Bà cô Tổ (Hiển Tổ Cô) được truy thụy là Cố Lê nội điện cung tần phụng lãnh chức hoa dung.

- Cụ (Hiển khảo) bố8 đỗ tú tài đời hoàng triều ta(chức câu đương của văn hội bản ấp, kiêm giám trương hàng thứ 69 Nguyễn Quý Công tên tự là Hòa Phủ) hiệu là Khoan Minh (Cụ bà- cả, tên hiệu là Thuần Tĩnh, cụ bà-vợ thứ, tên hiệu là Từ Kiệm)

PHỤ CHÉP ẤT CHI

- Cụ (Hiển tổ khảo) là hiệu sinh sinh đồ ở bản phủ Nguyễn Quý Công tự là Phúc Hải hiệu là Đạo Ninh tiên sinh, cụ bà hiệu là Từ Thản

- Cụ (Hiển khảo) bố10 chức phó sở sứ Nguyễn Quý Công tên tự là Thế Mỹ hiệu là Phúc Tuy, cụ bà- cợ cả hiệu là Thục Diễn; cụ bà – vợ thứ hiệu là Từ An; cụ bà – vợ ba hiệu là Từ Nhu

- Cụ (Hiển khảo) bố trước làm cẩn sự lang phó sở sứ Nguyễn Quý Công tên tự là Đình Chiểu tên hiệu là Phúc Miên, cụ bà- vợ cả hiệu là Thục Hiền, cụ bà –vợ thứ hiệu là Thục Nhan; cụ bà- vợ ba hiệu là Thục Thuận

- Cụ huyện thừa  huyện Vĩnh Khang, tước tăng trung tứ Nguyễn Quý Công tên tự là Trung Nghĩa hiệu là Phúc Tăng, cụ bà hiều là Từ Nhân

- Cụ (Hiển khảo) bố, là hương lão Nguyễn Quý Công tên tự là Thế Lộc hiệu là Phúc Thành, cụ bà-vợ cả hiệu là Thục Mỹ, cụ bà- vợ hai hiệu là Từ Thái

- Cụ cựu hình bộ lễ sinh tước lang trung ty hình ty Nghi Xuyên nam Nguyễn Quý Công tên tự là Đăng Tuấn hiệu là Phúc Cơ, cụ bà hiệu là Từ Tín

- Cụ (Hiển khảo) bố, Nguyễn Quý Công tên tự là Đình Thấu hiệu là Phúc Hòa, cụ bà là Ngô Thị Tứ

- Cụ (Hiển khảo) bố, Nguyễn Quý Công tên tự là Đăng Vực hiệu là Đạo Hoằng, em gái hiệu là Từ Thiện

Ngày tốt đầu xuân năm Quý Hợi đời Hoàng Triều Khải Định muôn muôn năm thứ 8 (1923)

                                                               Mặt hai:

                                            BIA VĂN GHI VỀ TIỀN RUỘNG THỜ TỰ

Thường nghe con người ta đều có nguồn gốc bởi Tổ Tiên , mà đàn bia dựng nên là nơi để vong linh tinh thần các vị tổ tông quy tụ. Đạo làm người mở đầu ở đạo hiếu với người thân, mà việc thờ tự cũng là dịp để những người thân thích trên dưới đước tụ hội. Thiên lý ở tại lòng người không thể nào bị mai một đi được. Họ tộc ta gây dựng bên trái dòng sông Nhuệ này đến nay đã được hơn 30 đời, các bậc quan nho kế tiếp sinh người khoa bảng truyền đời, cái đức sáng ngời ấy đã sáng từ xưa lâu thế đấy. Hàng năm xuân thu các tiết hay thanh minh đông chí, khi thì đến lễ trước mộ tổ, khi thì đến góp lễ tại nhà ông cán biện12 không có quy định chuẩn nào cả. Bởi vậy nên nay cả họ cùng họp bàn dựng đàn bia. Trên thì ghi tên thụy hiệu các vị Tiên tổ khảo (cụ ông), và tên hiệu các cụ bà, ngõ hầu để cho các cụ có nơi có chốn được thờ tự để quy về. Để tinh thần các cụ luôn luôn như còn đấy mãi, thành điển tác chung của họ ta được hội tụ, để phát huy ý nghĩa tình đoàn kết của những người trong họ ta. Còn như mở mang nhà cao tường dài, đài lớn đường nghiêm, trụ to bia cứng thì hãy phải trông mong vào các con hiền cháu thảo đời sau nữa. Vây nên làm bài kí này để ghi.

Các ruộng thờ tự của bản tộc liệt kê ra sau.

NGUYỄN TỘC THỨ CHI BI

Bia ghi về chi thứ họ Nguyễn

Lập giờ tốt ngày 2 tháng 3 năm Hoàng triều Duy Tân thứ 4 (1919) xã Tả Thanh Oai, tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Chi thứ họ Nguyễn kính phụng biên khắc.

Cụ 14Hiển cao tằng tổ khảo –( Kỵ) hiệu sinh đồ của bản phủ Nguyễn Quý Công15 thụy là Phúc Hải, hiệu là Đạo Ninh tiên sinh; Cụ bà Ngô Thị Hàng Nhất, hiệu là Từ Thản Nhụ Nhân.

Cụ (Hiển cao tổ khảo) làm phó sở sứ đồn điền Vĩnh Hưng, hương lão lão mao16 Văn hội17 hội lão Nguyễn Quý Công, tự Huy Chiếu, hiệu Phúc Cẩm Phủ Quân18; cụ bà- vợ cả, Bùi Thị Hàng Thứ 419, hiệu Thục Hiền; cụ bà- vợ kế., Nguyễn Thị Hàng Thứ 1, hiệu Từ Nhan; cụ bà- vợ ba, Hoàng Thị Hàng Thứ 3, hiệu Thục Nhan.

Cụ Hiển cao tổ khảo- cụ hương lão kiêm bản xóm Câu đương20 Nguyễn Quý Công, tự Trực Phủ, hiệu Tuệ Chính phủ quân; cụ bà Lê thị Hàng Một, hiệu Diệu Từ Dụ Nhân.

Cụ Hiển cao tổ khảo- cụ hương lão lão nhiêu Nguyễn Quý Công, thụy Đình Diêm , hiệu Cương trực phủ quân, cụ bà Nguyễn Quý Thị, hiệu nhàn Uyển Nhụ Nhân

Cụ Hương trung lệnh bàn22, Nguyễn Quý Công, thụy Văn Thế, từ Đúc Nghiệp phủ quân; cụ bà Nguyễn Quý Thị Hàng 3, thụy Tuân, hiệu Từ Nhàn Nhụ Nhân

Cụ Hiển tổ khảo- (Ông nội), bản tổng hào hương lão lão mao kiêm Tư Văn chi hội và câu đương bản xóm, Nguyễn Quý Công tự Trị, hiệu Chính Nghị phủ quân; Cụ bà Nguyễn Thị Hàng 1, húy là Thị Tuyền, hiệu Tử Giám Nhụ Nhân

Cụ Hiển tổ khảo- (Ông nội), hương lão lão nhiêu nguyên làm thông phán ở tỉnh Lạng, quyền nhiếp ẩn vụ huyện thất khê Nguyễn Quý Công húy Văn Cẩn Phủ quân; Cụ bà, Nguyễn Thị Ký Nhụ Nhân, bà cô tổ lấy người họ Ngô, là Nguyễn Thị Hàng 2, húy Thị Tiên, hiệu Diệu Văn Nhụ Nhân

Cụ Hiển khảo- (bố23), nguyên chức huyện tá huyện Hoài An Kiếm hương lão lão nhiêu tư văn hội câu đương bản xóm Nguyễn Quý Công húy Điều, tự Cần Cẩn, hiểu Cương Trục Phủ quận; cụ bà- vợ cả Ngô thị Hàng 3, húy Thị Hinh, hiệu Thục Hoài Nhụ Nhân; cụ bà – vợ thứ Nguyễn Thị Nhị, húy Thị Liên, hiệu Thần Tĩnh Nhụ Nhân

Cụ Hiển khảo- (bố), hương lão lão nhiêu tư văn hội Nguyễn Quý Công, húy Giang, tự Dụ Ngoạn, hiệu Minh Mẫn, phủ quân; cụ bà Ngô Thị hàng 1,húy Triệu, hiệu Từ Hóa Nhụ Nhân

Cụ Hiển khảo- (bố), Nguyên Thông Lại phủ  Lâm thao kiêm hương lão nhiêu, Nguyễn Quý Công húy Quý , hiệu Phúc

Mẫn phủ Quân cụ bà Nguyên Thị hàng 1, húy Thị Ty, hiệu Diệu Hiện Nhụ Nhân

Cụ Hiển khảo- (bố),  Lý trưởng bản xã kiêm bản tổng chính quản tổng và câu đương bản điểm hương lão lão nhiêu Nguyễn Quý Công húy, hiệu Ôn Hòa phủ  quân; cụ bà Ngô Thị Hàng 3 húy Thị Nhân hiệu từ Nhu Nhụ Nhân.

Người thừa kế trưởng là Nguyễn Văn Lý xây dựng gia đương phụng sự hương đèn ở sứ ngõ Ông có 2 thửa 2 hàng các sứ Đường Cao, Đông Binh đầu cầu tổng công 5 thửa 6 sào đều để lo liệu cho 3 ngày giỗ. Các thức trầu cau, vàng mã 100, xôi rượu cơm đầy đủ, đến ngày thì các đại biểu đến nhà trưởng bái yết thụ lộc

Ba ngày giỗ là: 17/2,17/5,10/8.

Ghi chú:

1 hai chi Giáp - Ất: tức chi trưởng và chi thứ, Giáp là trưởng, Ất là thứ

2 Cách tính thứ tự từ đời trước, có thể tính từ cụ đời thứ nhất đến nay hoặc có thể tính ngược từ đời người soạn lên đời các cụ. Vậy các cụ càng to thì số thứ tự càng lớn

3 Quý Công: từ công xưng chỉ người đàn ông

4 Hiển cao tổ khảo: tức kị hàng trên các cụ, gọi là kị, chứ Hán kêu bằng Hiển cao tổ

5 Hiển tăng tổ khảo: tức cụ hàng trên ông, gọi là kị, chữ Hán kêu bằng Hiển tằng tổ

6 Hoàng Tông Nữ: chỉ con cháu dòng dõi hoàng tộc. Cụ bà là con cháu dòng dõi vua Lê

7 Hiển tổ khảo tức ông nội, chữ Hán kêu bằng Hiển tổ

8 Hiển khảo là: hàng bố

9 Chức câu đương là giám trương là những chức thuộc về an ninh; hàng thứ 6. tức là con thứ 6

10 Các cụ hiển khảo ở đây dịch là Bố, không hoàn toàn có nghĩa là bố của người soạn bia mà là ngôi thứ ngang với hàng thân sinh của người soạn bia, nhưng đều đã mất, nên soạn văn bia đều xưng là Hiển khảo.

Chúng tôi đều dịch là bố, có mở ngoặc (Hiển khảo)


12 Cán biện: người lo việc cúng giỗ của cả họ, có thể là trưởng tộc hoặc do luân phiên bầu theo mỗi năm

14 Xem chú thích bia 1

15 Xem chú thích bia 1

16 Lão mao: người già cả trong làng trên 70

17 Văn hội: cũng như hội Tư văn, là hội của những người có học theo học thuyết của Khổng Tử

18 Cũng như Quý Công, Xem chú thích bia 1

19 Hàng tứ: tức con thứ 4. Xem chú thích bia 1

20 Xem chú thích bia 1

21 Quý thị chỉ người phụ nữ

22 Lệnh bàn: là bàn trên trong ngôi thứ ở đinh làng

23 xem chú thích bia 1

1. HỌC VỊ QUAN CHỨC NGUYỄN THẾ TỘC

(Ghi theo gia phả Đại Tôn Nguyễn Thế)

Đời 1: Cụ Khởi Tổ là phó sở Sứ Nguyễn Quý Công Tự Cao Niên.

Đời 5: Cụ Nguyễn Quý Công tự Huyền Thông con trai cả Cụ Đạt Tâm, làm quan võ, có một Đạo Sắc Mệnh bị hoả sai cháy mất.

- Cụ Phúc Thịnh là con cụ Phúc Thành, cháu đích tôn cụ Huyền Thông, làm Chị Bạ tục gọi và Ông Tre.

Đời 6: Cụ Cẩm Y Vệ trực tư xá nhân, Văn Nhuệ Nam phong tặng Mậu lâm lang, Kim Long Điện Thiếu Khanh Văn Nhuệ Tư Nguyễn góp công con cụ Phúc Vinh có tên Phú Yến tự Phúc Sinh.

Đời 7:

- Cụ Xã Trưởng, phong tặng Kim Tử Vinh lộc tám tự thừa chính sứ, Ty Tham Nghị Sử Tuyên Quang, Khanh thọ Bá, Nguyễn Tướng công Thuỵ Phúc Hiền là con cả cụ Phúc Sinh.

- Con thứ ba cụ Phúc Sinh là cụ Đạo Ninh Huý Hoằng và Thế Tế, thi đậu sinh đồ làm phó sở sứ - mất ngày 15/9 tự Phúc Hải hiệu Đạo Ninh.

Đời 8:

- Cụ Xuân giai công: Con cả cụ Phúc Hiền, Huý Vương thi đậu thư toán được sung chức Đô Tư Lễ Giám.

- Cụ Phúc Tiên Công: Là con thứ 3 cụ Phúc Hiền Huý Xuân Phương, tục gọi là Cấu Thi Nghạch thư toán trúng cách nhậm chức Phó Sở Sứ, từng làm việc tại các xứ Nghệ An, Thanh Hoá, Hải Dương.

- Cụ Nguyễn Tướng Công, Đặc Tiểu Kim Tử Oanh lộc đại phu, tám rự thừa chính sứ ty tham chính các xứ Tuyên Quang, Sĩ Trung Hầu tự Phúc Liêm, Thuỵ Đôn Phúc. Cụ là con thứ Tư cụ Phúc Hiền, huý là Quân.

- Cụ Phúc Tuy, huý Tiện là con trai thứ hai cụ Đạo Ninh, tên khi nhỏ là Trọng làm phó sở sứ.

Đời 9:

- Cụ Trung Nhạc Công là con cả cụ Phúc Tiêm, húy Chính Thiện tục gọi là Hiêng, thi đậu Tam Trường khoa Bính Ngọ, khoa Ất Mão cùng em là Điền Hiếu Công đều trúng Tứ Trường. Năm Kỷ Tỵ mùa xuân lại trúng Tam Trường. Năm Giáp Tý làm chức Thư kinh học chính Trường Quốc Tử Giám.

- Cụ Điềm Hiến Công con thứ tư cụ Phúc Tiêm, húy Huệ Định, tục gọi là Núi, khoa Quý Mão trúng Tam trường, khoa Ất Mão cùng anh là Trung Nhạc Công đều trúng Tứ Trường. Năm ấy nhậm chức Điểm Tịch, năm Quý Dâuh làm chi huyện Bình Truyền.

- Cụ Nguyễn Tướng Công húy Chính Cử, Tăng phong Đặc Tiểu Kim Tử vinh lộc đại phu Nghị sử đài thiếu Đô ngự Sử Thanh Khê, cụ là con trai thứ ba cụ Phúc Liêm.

- Cụ Phúc Hùng Công, con trai thứ cụ Phúc Tuy, húy Thế Nghĩa, làm Huyện Thừa Huyện Vĩnh Khang, Tước Tăng Trung Tử.

- Cụ Phúc Miên Công, con trai thứ ba cụ Phúc Tuy, húy là Đình Chiểu làm chức Phó sở sử.

Đời 10:

- Cụ Thông Nghiễm Lang là con cả cụ Trung Nhạc Công, húy Công, có tên Xuân Hải làm tuần sở Hoa Sơn Châu Thất Toàn tại Lạng Sơn.

- Cụ Chính Điểm Công con thứ cụ Trung Nhạc Công húy Xuân Lai, thi trúng Tam Trường khoa hương Mậu Tý.

- Cụ Tiến sĩ Nha là con trai cả cụ Chính cử, húy Bá Thành tên lúc nhỏ là Vỹ, tục gọi là Voi. Là tiến sĩ khoa Ất Tỵ, Công bộ Hữu Lang, Tả Khê Bá, Nguyễn Quý Công Tự Nam Văn, hiệu Điềm Khác.

- Cụ Tông con thứ hai cụ Chính Cử được ấn phong quan viên Tử nho sinh, Nguyễn Nhị Lang Tứ cảnh Trực, thi đậu Tam Trường khoa Hương Mậu Tuất.

- Cụ Quý con cả cụ Phúc Hậu, lúc nhỏ tên là Đích Tục gọi là Xum hay Xồm, thi đậu Tam Trường khoa hương Đinh Dậu. Được chức Huyện Thừa Năm Bính Ngọ.

- Cụ Đặng Quỹ, con trai thứ hai cụ Thế Nghĩa, khi nhỏ tên Huân Năm Canh Tuất thời Quang Trung, chiều Tây Sơn đậu Lễ Sinh trong ấp sung làm Lại sự Bộ Hình, chức Lang Trung, Tước Tử. Năm Gia Long thứ hai sung làm Tư Vụ Bộ Hình Tước Nghi Đức Nam, Hiệu là Viên Cơ.

Phần ghi danh con cháu dòng họ từ đời 14 đến đời 18

I,Danh sách các liệt sỹ qua ba cuộc chiến tranh

* Chống Pháp

1, Nguyễn Du Thu        hy sinh năm 1947

2, Nguyễn Văn Quán              hy sinh năm 1948

3, Nguyễn Duy Mùi            hy sinh năm 1949

4, Nguyễn Vĩnh Nguyên     hy sinh năm 1950

5, Nguyễn Du Trường         hy sinh năm 1950

6, Nguyễn Du Hiển             hy sinh năm 1951

* Chống Mỹ

1, Nguyễn Văn Tuyển         hy sinh năm 1965

2, Nguyễn Văn Khuê           hy sinh năm 1966

3, Nguyễn Du Hòa               hy sinh năm 1968

4, Nguyễn Quang Sinh         hy sinh năm 1969

5, Nguyễn Duy Dậu             hy sinh năm 1969

6, Nguyễn Duy Cử               hy sinh năm 1971

7, Nguyễn Văn Quang         hy sinh năm 1972

* Phía Bắc

1, Nguyễn Văn Chiến          hy sinh năm 1979

2, Nguyễn Văn Hải              hy sinh năm 1979

II. Danh sách các sỹ quân đội và công an NDVN

1, Đại tá Nguyễn Hồng Vinh, sinh năm 1827 là thanh tra Bộ công an.

2, Đại tá Nguyễn Như Tùng, sinh năm 1928 phó phòng cục kỹ thuật Bộ công an.

3, Thiếu tá Nguyễn Văn Mão, sinh năm 1951 hiệu phó chính trị trường kỹ thuật quân đoàn III.

4, Đại úy Nguyễn Thế Liên, sinh năm 1950    QĐNDVN

5, Trung úy Nguyễn Bá Triệu       QĐNDVN

III, Danh sách con em dòng họ Nguyễn Thế có bằng thạc sỹ

1, Nguyễn Thị Minh Tâm ( THS kinh tế 2007)

2, Nguyễn Đình Kiên        (THS kinh tế 2007)

3, Nguyễn Ngọc Khánh     ( THS, kỹ sư Cầu Đường bộ 2009)

IV, Danh sách con em dòng họ Nguyễn Thế có bằng cử nhân

1, Nguyễn Duy Thắng ( cử nhân địa chất 1973)

2, Nguyễn Xuân Cảnh ( cử nhân SP 1977)

3, Nguyễn Ngọc Nội ( kỹ sư xây dựng 1984)

Là UV ban cố vấn hội võ thuật HN, chủ nhiệm – võ sư trưởng võ đường Vĩnh Xuân Nội gia quyền, chủ tịch – trưởng tộc kiêm phó chủ tịch liên đoàn võ thuật và thể thao chiến đấu Châu Á- Ba Lan

4, Nguyễn Thị Kiều Anh ( cử nhân NH 1984)

5, Nguyễn Thế Liên ( cử nhân KT 1988)

6, Nguyễn Thị Thúy ( cử nhân SP 1988)

7, Nguyễn Thị Hồng  Anh ( cử nhân KT 1990)

8, Nguyễn Ngọc Quyết ( cử nhân KT 1994)

9, Nguyễn Vĩnh Thắng ( Kỹ sư GT  2002)

10, Nguyễn Thế Anh ( cử nhân KT 2003)

11, Nguyễn Vĩnh Hào (KS Mỏ 2005)

12, Nguyễn Vĩnh Toàn ( cử nhân KT 2005)

13, Nguyễn Tiến Mát ( KS cơ khí 2005)

14, Nguyễn Thị Nhàn ( cử nhân KT 2005)

15, Nguyễn Thị Hương ( an ninh 2005)

16, Nguyễn Vĩnh Thanh (Ks GT 2006)

17, Nguyễn Thị Hồng Hải ( cử nhân KT 2006)

18, Nguyễn Thị Hạnh ( SP 2007)

19, Nguyễn Tất Nghĩa ( Viện âm Nhạc 2007)

20, Nguyễn Vĩnh Tường Anh ( an ninh 2007)

21, Nguyễn Thị Phương ( cử nhân KT 2007)

22, Nguyễn thị Hồng  (cử nhân KT 2007)

23, Nguyễn Đình Cương  ( KS Mỏ 2008)

24, Nguyễn Thị Huệ ( cử nhân NT 2008)

25, Nguyễn Thị Huyền ( cử nhân KT 2009)

18 - HỌ NGUYỄN TRẦN

Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác):

1Nguyễn Thị Thanh Ngà, sinh 1981 kỹ sư Kinh tế năm 2004.

2 Nguyễn Trần Hải, sinh 1988 Đại học Kinh tế quốc dân 2009.

19 – HỌ NGUYỄN VĂN.

Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác):

1 - Nguyễn Văn Mạnh sinh 1977, Đại học luật 2000.

2 - Nguyễn Thị Thuý sinh năm 1979, Đại học sư phạm 2009.

3 - Nguyễn Thị Minh Thu sinh 1985, Đại học khoa nhân văn 2009.

4 - Nguyễn Thị Thu Hương sinh 1987, Đại học khoa du lịch 2008.

Sĩ quan: tướng, tá, uý:

1 - Nguyễn Mạnh Điềm, sinh năm 1949 Thiếu uý 1973.

2 - Nguyễn Hồng Anh, sinh năm 1957 Đại uý năm 1990.

3 - Nguyễn Hồng Khải, sinh năm 1984 Thiếu uý quân y năm 2010.

20 - HỌ NGUYỄN XUÂN

BIA TỔ ĐÀN HỌ NGUYỄN

- Cụ Hiển triệu tổ khảo (cụ thuỷ tổ) họ Nguyễn tên hiệu là Phúc Tác phủ quân.

- Cụ tổ tỷ là chính thất (vợ cả của cụ thuỷ tổ) họ Nguyễn tên hiệu là Trinh Hiền nhụ nhân.

- Cụ hiển cao cao tổ khảo họ Nguyễn tên hiệu là Phúc Trường phủ quân.

- Cụ tổ là chính thất nhà họ Nguyễn tên hiệu là Từ Phụng phu nhân.

- cụ hiển cao tổ khảo họ Nguyễn tên tự là Hiền Lương phủ quân.

- Cụ tổ tỷ chính thất nhà họ Nguyễn, tên hiệu là Từ Thuận nhụ nhân.

CÁC  TỔ KHẢO ĐƯỢC TÒNG TỰ

-Bậc khai khoa (của họ) đỗ thủ khoa triều trước (triều Lê) làm chức Cẩn lang Tri huyện huyện Lục Ngạn tên tự là Đăng Liên, tên hiệu là Phúc Hoà tướng công.

- Chức Văn thư triều trước tên tự là Xuân Diễm tiên sinh.

- Cống sinh triều trước làm chức Hành tẩu Cẩn sự lang huyện thừa huyện Vĩnh Khang, tên tự là Đăng Xướng, tên hiệu là Phúc An tiên sinh.

- Sinh đồ triều trước tên tự là Xuân Ánh tiên sinh.

- Sinh đồ triều trước tên tự là Xuân Bồi tiên sinh.

- Huyện thừa huyện Quang Vinh tên tự là Viết Tế tiên sinh.

- Làm quan Giám lại Thiên giám triều trước tên tự là Xuân Huyên, tên hiệu là Bộc Trọng phủ quân.

- Đỗ Tú tài khoa Tân Mão, tên hiệu là Phúc Thiện tiên sinh.

- Làm quan Khâm bổ khoa trường, Thư lại trấn Sơn Nam, tên tự là Hải Hoằng, tên hiệu là Huyền Nghị tiên sinh.

- Lại mục huyện Cẩm Giàng, tên tự là Nhã, tên hiệu là Thuần Tín phủ quân tiên sinh.

- Bắc Tá về trí sĩ phong làm Phụng Thành đại phu, tòng ngũ phẩm họ Nguyễn tên huý là Như, tên tự là Trữ, tên thuỵ là Đoan Thuận tiên sinh.

- Nguyên làm Lại mục huyện Mỹ Đức sắc phong là Trung Sĩ Tá lang nhất hạng, Thông phán về hưu trí, kiêm chủ tọa, chức sắc kỳ mục của xã họ Nguyễn tên tự là Sắc Bỉ, tên hiệu là Ngọc Tề tiên sinh.

BI KÝ TỔ ĐÀN HỌ NGUYỄN

Từng nghe: Người ta có tổ tiên, người có sự nghiệp được phải nhờ có tiên tổ, uống nước ắt phải nhớ nguồn. Lý trời ở tại lòng người, không thể nào mà mất đi được, họ ta ở làng bên tả của dòng sông Nhuệ. Đã trải qua hơn 20 đời rồi, khoa hoạn truyền nối dài mãi về sau. Hàng năm hai kỳ tế xuân thu hoặc tế ở trước mộ tổ, hoặc tại nhà ông Cán biện (người lo công việc trong họ), chưa có chuẩn định. Nay trong họ ta bàn bạc dựng nhà bia, khoảng trên đề tôn hiệu của các bậc tiên tổ, và những người được tòng tự, khoảng dưới để trống vài hàng để đợi sau này trong dòng họ có người đỗ đạt, làm quan về lễ tại đàn thì tiếp tục được khắc vào phía dưới. Phần trên của mặt sau bia khắc bài văn bia, phần dưới khắc số mẫu sào ruộng đất.

Ngõ hầu! tiên tổ ta có nơi để thờ tự mà thành phép tắc để về sau này. Linh khí của tiên tổ có nơi tụ về, mà họ tộc có nơi hội họp đoàn viên. Đó mới chỉ là đặt ra cái ban đầu chăng? Còn nếu như mong có được nhà to lớn, tảng, cột kèo to đẹp, thì mong đợi con cháu sau này. Bởi vậy viết nên bài ký này.

Ruộng thờ của họ ghi ở phía sau:

Lập bia vào ngày lập xuân 3 ngày tháng giêng năm Đinh Tỵ niên hiệu Khải Đinh thứ 2 (1917).

Nguyễn Trữ cháu đời thứ 20, trước lĩnh hàm Bắc tá đã về trí sĩ, được phong là Phụng Thành đại phu, hàm tòng Ngũ phẩm kính ghi.

Thưởng thụ hàm chánh bát phẩm, lại mục phủ Mỹ Đức, Nguyễn Toản kính sửa.

BIA GHI SONG HẬU (hai hậu)

Ngày mồng 7 tháng 11 năm Khải Định thứ 5. Quan viên lão nhiêu chức dịch của họ Nguyễn xã Tả Thanh Oai cùng mọi người trong họ lập bia hậu. Xét, những người nối dõi của 2 nhà cụ Lý và cụ Thầy trong họ xin gửi hậu ở bản tộc, xuân thu nhị kỳ biện xôi (lễ vật) đem tới nơi (tế tổ) để xin được (giỗ tiên tổ) và được tòng tự, để có nơi nương tựa. Bản tộc bèn lập bên phải trong đàn, khắc các tôn hiệu để truyền dài mãi sau này. Nay lập bia.

Hiển khảo hương lão lão nhiêu kiêm câu đương của bản điếm Nguyễn quý công tên tự là Pháp Độ, tên hiệu là Phúc Tiến tiên sinh.

Hiển tỷ là chính thất của cụ hương lão lão nhiêu kiêm câu đương của bản điếm, con thứ nhất nhà họ Nguyễn tên hiệu là Từ An nhụ nhân.

Hiển khảo hương trung lệnh bàn (được ngồi mâm lệnh trong làng) họ Nguyễn quí công tên tự là Xuân Thành, tên hiệu là Pháp Độ tiên sinh.

Hiển tỷ là chính thất nhà họ Nguyễn, con gái thứ 5 nhà họ Tưởng, tên huý là Cô, tên hiệu là Từ Nhân nhụ nhân.

Cao tổ khảo Nguyễn quí công tên tự là Viết Gia, tên hiệu là Phúc Mỹ phủ quân.

Tằng tổ khảo Nguyễn quí công tên tự là Gia Căn, hiệu là Thuần Nhã phủ quân.

Tổ khảo họ Nguyễn quí công tên tự là Bình, tên hiệu Trung Thành phủ quân.

Hiển khảo hương lão lão nhiêu Nguyễn quí công tên tự là Túc, tên huý là Định tên hiệu là Vĩnh phủ quân.

Hiển khảo hương trung lệnh bàn (được ngồi mâm lềnh ở trong làng) Nguyễn Xuân Phu phủ quân.

Hiển bá khảo giáp lão bàn (được ngồi mâm lão bản giáp) Nguyễn Xuân Phát.

Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác) sau năm 1945:

1 - Nguyễn Xuân Triểu sinh năm 1950, tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học (Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 2000.

2 - Nguyễn Hoàng Anh sinh năm 1978, Cử nhân Ngoại ngữ (tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, ngành Tiếng Anh) năm 1998; Cử nhân Luật, (tốt nghiệp Đại học Dân lập Thăng Long, ngành Luật) năm 1999.

Sĩ quan:

1 – Nguyễn Xuân Ong, Đại uý.

2 – Nguyễn Xuân Hồng, Trung uý.

21 - HỌ PHẠM.

Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác):

1 – Phạm Hùng Dũng: Tiến sĩ hoá học năm 1989.

2 – Phạm Đức Độ: Tiến Sĩ năm 1997, ngành Điện khí hoá xí nghiệp.

3 – phạm Hoài Vũ: Thạc sĩ kinh tế năm 1996.

4 – Phạm Thị Thuỷ: Cử nhân báo chí, Cử nhân ngoại ngữ (tiếng Anh) năm 1999, Cử nhân chính trị năm 2003, Thạc sĩ truyền thông năm (2007).

5 – Phạm Hùng Quyết: Cử nhân vật lí năm 1965.

6 – Phạm Thị Thành: Cử nhân thể dục thể thao (bóng chuyền) năm 1976.

7 – Phạm Thị Hạnh: Cử nhân địa chất công trình, địa chất thuỷ văn năm 1976.

8 – Phạm Đức Thành: Cử nhân quân sự (chỉ huy kỹ thuật Phòng không – Không quân) năm 1987.

9 – Phạm Hoài Thanh: Cử nhân kinh tế năm 1995.

10 – Phạm Nguyễn Nam: Cử nhân kinh tế năm 1997.

11 – Phạm Chí Công: Cử nhân luật năm 1998.

12 – Phạm Lê Sơn: Cử nhân xây dựng năm 1998.

13 – Phạm Minh Thuỷ: Cử nhân biên tập xuất bản năm 2001.

14 – Phạm Thanh Hà: Cử nhân kinh tế (kế toán, kiểm toán) năm 2007.

15 – Phạm Trung Dũng: Cử nhân (tài chính, ngân hàng) năm 2008.

16 – Phạm Quang Hưng: Cử nhân (tài chính, ngân hàng) năm 2009.

Sĩ quan:

Phạm Đức Thành: Cử nhân quân sự (chỉ huy kỹ thuật Phòng không – Không quân) năm 1987.

22 - HỌ TRẦN

                                                          Bi ký ở từ đường Họ Trần

                                                      Bia đá lớn mặt trước phần trên.

                                                        ĐÀN BI TỰ HỌP TỘC TRẦN.

                                                           Xuân Thu Họp Tế Đàn.

                                                   Khải Tổ Á Phân Chi Thuỷ Tổ Liệt Vị.

Thập Tứ Đại Cố Lê Chỉ Huy Sứ Hiệu Phúc Hậu Tiên Sinh, Tỷ Nguyễn Hiệu Từ Nhân Nhụ Nhân.

Thập Tam Đại Tự Hưng Long Hiệu Phúc … Tiên Sinh, Tỷ Hiệu Từ Hoà Nhụ Nhân.

Thập Nhị Đại Tự Hưng Thiệu Hiệu Phúc Lồng Tiên Sinh, Tỷ Lưu Hiệu Từ Bà Nhụ Nhân.

Thập Nhất Đại Trưởng Chi Thuỷ Tổ Hiệu Phúc Hiền Tiên Sinh, Tỷ Nguyễn Hiệu Từ Nhung Nhụ Nhân.

Thập Nhất Đại Chi Thứ Thuỷ Tổ Hiệu Phúc Trực Tiên Sinh, Tỷ Hiệu Từ Bà Nhụ Nhân.

Tự Đức Giáp Tuất Đông.

Bia đá lớn mặt sau):

Trần Tộc Tòng Tự Phối Hưởng Bi Ký.

Ngã Tộc Chi Tiên Kỳ Tường Bất Khả Đắc Nhi Văn … Ký … Thập Tứ Đại Phúc Hậu Tiên Sinh Thập Tam Đại Phúc. Ốc Tiên Sinh Thập Nhị Đại Phúc Lồng Tiên Sinh Ngã Tộc Triệu Tổ Dã Hy Kế Hậu Chi Phái Phồn Đa Thế Đại Lưu Viễn Kế Thời Hậu Tự Các Từ Phân Chi Chung Gian Tiền Chư công Thuỵ Dục Lập Bia Chí … Hợp Tự Hữu Chi Nhi Vị Qủa Tư Hữu Tộc … Trần Thị Định Lãi Triệu Tổ Chi Thập Tứ Đại Nữ Tôn … Triệu Gia Chi Hiền Nội Tương Gĩa Sinh Nữ Tử Thanh Niên Qủa … Năng Gĩư Trinh Tiết Tự Thủ Niên Thất Tuần … Tự Tiên Tổ Công Đức Chí Tự Vu Bản Tộc Phụ …….. Tiền Văn Thất Bách Ngũ Thập …… Tộc Hợp Ghi Công Tiên Mãi Bia Đàn Thổ … Tự Điền …(bia hỏng)…….

Tự Đức Nhị Thập Thất Niên Thập Nhất Nguyệt Cát Nhật (11-1874);

Thập Tứ Đại Trần Thị Định Phụng Lập.

(mùa đông năm Giáp Tuất đời Tự Đức, tháng 11 năm Giáp Tuất đời Tự Đức 1874)

Khoa bảng, văn quan, võ tướng họ Trần trong bia:

Mặt trước bia đá lớn ở bên phải phía dưới.

Lịch Đại Khoa Quan Danh Sắc Liệt Vị

– Cố Lê: phát khoa dám sinh Đông cung Tả giảng, Trần công hiệu Hoà Tĩnh tiên sinh.

– Cố Lê: Hoài Viễn tướng quân, chỉ huy sứ phi kỵ tướng quân, Thọ Sương bá, Trần công hiệu Phúc Lương.

– Cố Lê: Hưng khoa quận tường hiệu sinh, Trần công tự Hưng Huấn hiệu Thủ Chính tiên sinh.

– Cố Lê: Hiệu sinh, Trần công tự Phúc Tín hiệu Đốc Kính tiên sinh.

– Cố Lê: Phù nam vệ, Trần công tự Pháp Định hiệu Phúc Độ tiên sinh.

– Cố Lê: Tiến công thứ lang tiên nữ huyện, huyện thừa, Trần công tự Thắng Trung hiệu Thủ Nghĩa tiên sinh.

– Cố Lê: Tú lâm cục nhu sinh, Trần công tự Tố Mô hiệu Đôn Mẫn tiên sinh.

– Cố Lê: Hiệu sinh, Trần công tự Đạt Lý hiệu Tuần Dụ tiên sinh.

– Cố Lê: Tiến công thứ lang Trung Thuận huyện, huyện thừa kỳ di lão, Trần công tự PhápỨng tiên sinh.

– Cố Lê: Hiệu sinh Trấn công tự Phúc hiệu Đôn Trực tiên sinh.

– Cố Lê: Quận tường hiệu sinh kỳ di lão, Trần công tự Song Lạc hiệu Tuần Lý tiên sinh.

– Cố Lê: Khâm thị binh phòng Câu kê Hữu Trung bá, Trần công tự Hữu Đăng hiệu Đôn Tín tiên sinh.

Mặt trước bia đá lớn ở bên trái phía dưới.

– Cố Lê: Tiền thời tiến kim tử đại phu, Đô cấp sự, Chiếu Quang tử, Trần công thuỵ Trung Chính hiệu Dũng Quyết tiên sinh.

– Cố Lê: Quận tường hiệu sinh, Trần công tự Ngân Trung hiệu Thuần Trai tiên sinh.

Tòng tự phối hưởng liệt vị

– Tiền tả thừa tư, Trần công tự Huy Côn hiệu Phúc Minh tiên sinh, tỷ Nguyễn thị hiệu Diệu Nguyên nhụ nhân.

- Thập tứ đại nữ tôn Trần Thị Định hiệu Từ Loại nhụ nhân, phu Triệu Văn Bình hiệu chí Hiền tiên sinh.

- Trần môn tự Huy Bích hiệu Phúc Mẫn lịnh lang, Trần môn tự Huy Mẫn hiệu Phúc Tuệ linh.

- Nhĩ tôn cư sĩ thập khoa Tú tài Dư Cát Trần Xuân Khánh … kính …

BIA ĐẶT HẬU (bia lớn)

Hà Đông tỉnh, Thanh Oai huyện, Tả Thanh Oai tổng, Tả Thanh Oai xã, Trần Thị Sáu ghi lập hậu kỵ bi ký duyên … phụ mẫu, tứ nữ duy thứ, thứ tỷ Trần Thị Cẩn …(bia hỏng không đọc được) …

Hoàng Triều Khải Định ngũ niên thập nhị nguyệt sơ nhị nhật (02-12-Khải Định 5) tức năm 1921

Khoa bảng, văn quan, võ tướng họ Trần còn lại trong phả:

– Nhiêu phu sứ thần, Trần công tự Thuần Mẫn hiệu đôn Trực tiên sinh, tỷ Trần công chính thất Nguyễn thị hàng nhất hiệu Từ Kiêm nhụ nhân.

– Tiền hình bộ lang trung, Lương Phái tử, Trần công huý Ôn Nhã hiệu Trí Hoà tiên sinh, tỷ Trần công chính thất Nghiêm thị hàng nhất hiệu Từ Hạnh nhụ nhân.

– Hoàng triều cửu khoa Tú tài, Trần công tự Xuân Đường hiệu Hy Cừ tiên sinh, tỷ Ngô thị huý Nghiễn hiệu Từ Ý nhụ nhân.

– Nam Sương huyện lại mục, Trần công tự Hữu Tiến hiệu Trưng Trực phủ quân, tỷ Trần công chính thất nghiêm thị hàng nhị hiệu Từ Bà nhụ nhân.

– Tiền bản xã Thập lý hầu, Trần công tự Hữu Phùng phủ quân, tỷ Trần công chính thất Nguyễn thị hàng nhất hiệu Diệu Thanh dụ nhân.

– Hương trung linh bàn, Trần tứ lang huý Liễn phủ quân.

Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác) sau năm 1945:

1 -Trần Đàm: Cử Nhân vật lý (1967), Tiến Sĩ vật lý (1977).

2 –Trần Kim Anh: Cử Nhân vật lý (1970), Tiến Sĩ vật lý (1988), phó Giáo Sư vật lý (1996).

3 –Trần Việt: Đại học Ngoại giao (2002), Thạc Sĩ kinh tế đối ngoại (2005).

4 –Trần Cường: Cử Nhân thông tin (2004), Thạc sĩ thông tin (2008).

5 – Trần Văn Sơn: ĐH ngoại ngữ.

6 –Trần Thanh Thuỷ: Cử Nhân du lịch (2002).

7 –Trần Thu Thuỷ: Cử Nhân kinh tế (2002), Thạc Sĩ kinh tế (2010).

8 –Trần Minh Thu: Cử Nhân ngân hàng, thủ khoa ĐH virginia Hoa Kỳ (2003), Thạc Sĩ ngân hàng (2006).

9 –Trần Kim Chi: Cử Nhân sư phạm (1964).

10 –Trần Quỳnh: Kỹ Sư điện (1966).

11 _Trần Minh Tâm: Kỹ Sư bán dẫn (1972).

12 –Trần Diên Sơn: ĐHQS (1979).

13 –Trần Kim Dung: C500 (1982).

14 –Trần Đại Lâm: phó Giáo sư, Tiến sĩ (2009).

15 –Trần Văn Quyền: Đại học đông đô.

16 –Trần Văn Thường: Cử nhân thể dục thể thao (1986).

17 –Trần Thị Tươi: Cử Nhân sư phạm ngoại ngữ (1983).

18 –Trần Văn Bằng: Cử Nhân kinh tế quốc dân (2007).

19 –Trần Văn Phú: Cử Nhân quân sự (2002).

20 –Trần Thị Yến: ĐH truyền hình.

21 –Trần Thị Hà: ĐH mở.

23 - HỌ  TRIỆU

Bia họ:

Dịch nghĩa bia tế lễ lập năm Giáp Tuất (1874) niên hiệu Tự Đức.

TRIỆU TỘC HỢP TỰ BIA ĐÀN

Xuân thu nhị kỳ lập đàn làm lễ kính tế.

Đời thứ nhất:

Thuỷ tổ khảo Triệu Công được phong lão nhiêu, tên hiệu Phúc Cố tiên sinh.

Thuỷ Tổ tỷ Nguyễn Thị hàng nhất, tên hiệu Từ Cơ nhũ nhân.

Đời thứ hai chi trưởng:

Hiển tổ khảo Triệu Công được phong lão nhiêu, giữ chức Câu Đương tên hiệu Phúc Quán tiên sinh.

Hiển Tổ tỷ Nguyễn Thị hà hàng nhị, tên hiệu Từ Khánh nhũ nhân.

Đời thứ hai chi thứ:

Hiển Tổ khảo tên hiệu Phúc Chính tiên sinh.

Hiển Tổ tỷ tên hiệu Từ Di nhũ nhân.

Đời thứ hai chi thứ:

Hiển Tổ khảo là bậc Kỳ lão tên tự Đình Đạm, tên hiệu Trí Thành tiên sinh.

Hiển Tổ tỷ Nguyễn Thị hàng tứ, tên hiệu Từ Mẫu nhũ nhân.

Đời thứ hai chi thứ:

Hiển Tổ khảo được phong Lão nhiêu, tên tự Phúc Thành tên hiệu Khoan Nhã tiên sinh.

Hiển Tổ tỷ Trần Thị hàng nhị, tên hiệu Từ Nhân nhũ nhân.

Hiển khảo là Hương lão tên tự Đình Thân, tên hiệu là Phúc Trung tiên sinh.

Cháu đời thứ năm tên tự Văn Bình, tên hiệu Trí Hiền tiên sinh.

Vợ là Trần Thị Định, tên hiệu Dĩnh nhũ nhân.

Mùa Đông năm Giáp Tuất (1874), niên hiệu Tự Đức năm thứ hai mươi bẩy.

Học hàm, học vị:

Thời phong kiến:

1-     Cụ Thuỷ Tổ Triệu Phúc Cố, đỗ Hương cống, năm (1725).

2-     Cụ Triệu Phúc Quán, Văn Hội Câu Đương, năm (1755).

3-     Cụ Triệu Phúc Thành đỗ Hương cống, năm (1760).

4-     Cụ Triệu Phúc Bạch đỗ Hương cống, năm (1790).

5-     Cụ Triệu Đình Thân đỗ Hương cống, năm (1820).

6-     Cụ Triệu Phúc Chuẩn đỗ Hương cống, năm (1823).

7-     Cụ Triệu Đình Kim Trật Tòng nhị phẩm, Tuần Phủ, năm (1825).

8-     Cụ Triệu Kim Đình đỗ Hương cống, Thư ký Toà án Hà Nội, Hội sĩ Tư văn, (1838).

9-     Cụ Triệu Huy Cương đỗ Hương cống, Điển tư, Tả dụng vệ quyền, năm (1840).

10-Cụ Triệu Văn Đức, Cử nhân võ, Tổng lãnh binh tỉnh Sơn Tây, năm (1840).

11-Cụ Triệu Lộng đỗ Hương cống, năm (1855).

12-Cụ Triệu Tự đỗ Hương cống, năm (1858).

13-Cụ Triệu Khôi đỗ Hương cống, năm (1860).

14-Cụ Triệu Gia Tường, Võ sư trưởng môn phái Mai Hoa, năm (1920).

Sau cách mạng tháng 8/1945:

15-Triệu Triều Dương, Đại tá viện Quân y 108, Bác sĩ (1985), Tiến sĩ y học (2003), Phó Giáo sư y học (2009).

16-Triệu Hồng Anh, Cử nhân thương mại (2006), Thạc sĩ thương mại Mỹ (2010).

17-Triệu Văn Phong, Trung tá công an (1969).

18-Triệu Quang Vinh, Cử nhân văn học (1969), Hiệu trưởng PTCS.

19-Triệu Thị Cam, Cử nhân vật lý ngành sư phạm (1969).

20-Triệu Thị Bích Liên, Cử nhân sinh hoá sư phạm (1970).

21-Triệu Đắc, Dược sỹ cao cấp ĐH Dược (1973).

22-Triệu Thị An, Bác sỹ chuyên khoa cấp I, năm (1981).

23-Triệu Tuấn Phương, Kỹ sư điện Đại học Bách khoa (1982).

24-Triệu Quang Minh, Kỹ sư Đại học Xây dựng (1984).

25-Triệu Thị Đào, Cử nhân nông nghiệp (1990).

26-Triệu Thị Liệu, Cử nhân nông nghiệp (1990).

27-Triệu Chí Trung, Cử nhân công nghệ Bia tại Bungari (1991), Cử nhân kinh tế thương mại (1997).

28-Triệu Phương Thuỷ, Cử nhân Luật (1994).

29-Triệu Tuấn Phi, Trung cấp KTCN (1983), Cử nhân Thương mại (1995).

30-Triệu Anh Tuấn, Cử nhân nông nghiệp (1998).

31-Triệu Anh Tú, Cử nhân kinh tế (2001).

32-Triệu Minh Vỹ, Cử nhân kinh tế (2004).

33-Triệu Tùng Lâm, Cử nhân Luật (2006).

34-Triệu Thành Trung, Cử nhân y học (2009).

Sĩ quan:

1-     Triệu Văn Phong, Trung tá công an (1969).

2-     Triệu Triều Dương, Đại tá viện Quân y 108, Bác sĩ 1985, Tiến sĩ y học 2003, phó Giáo sư y học 2009.

24 - HỌ TƯỞNG

BÀI VĂN BIA CỔ

Dịch nghĩa nguyên bản từ chữ Nho khắc tại bia đá đàn tế dựng

vào tháng 11 năm Canh Thìn đời vua Minh Mạng (năm 1820).

TƯỞNG ĐẠI TÔN HỢP TỰ CHI BIA

Họ Tưởng ta có nguồn gốc sâu rộng lâu dài ở đất Việt, có phả hệ chứng minh đầy đủ từ năm Thiệu Phong trở đi đã trải mười sáu đời, đến nay chừng 500 năm rồi.

Thuỷ Tổ khảo tự Đức Tiên phủ quân; Tổ tỷ Ngô quí thị hiệu Bảo Sinh (nhị vị hợp táng mả tổ Thao Vực).

Hiển thập tam đại Tổ khảo tự Đức Tiến phủ quân; Tổ tỷ Nguyễn quý thị hiệu Diên Trường (nhị vị hợp táng mả tổ Thao Vực).

Hiển thập nhị đại Tổ khảo tự Đức Ngu phủ quân; Tổ tỷ hiệu Từ Duệ (nhị vị hợp táng Cây Trai).

Hiển thập nhất đại Tổ khảo tự Đức Chính phủ quân; Tổ tỷ hiệu Từ Thục (Giáp vị táng mả Kỳ Hạ, Ất vị táng xứ Cây Trai) sinh nam lục, trưởng Phúc Khê công, thứ phân ngũ chi từ đây.

Hiển thập đại Tổ khảo tự Phúc Khê phủ quân; Tổ tỷ Mạc quý thị hiệu Từ Ái (hợp táng mả tổ Thao Vực).

Hiển cửu đại Tổ khảo tự Đức Khê phủ quân; Tổ tỷ Ngô quí thị hiệu Từ Tín (hợp táng mả tổ Thao Vực) sinh nam nhị, trưởng Tu Đạo công, thứ Đoan Tĩnh công.

Hiển bát đại Tổ khảo: Quang Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân Phụng Thánh Thiên Định Nhị Vệ Đô Quản Lĩnh Phúc Toàn Quận Công, thuỵ Tu Đạo phủ quân; Tổ tỷ Tôn quí thị hiệu Từ Tính (hợp táng mả Kỳ Trung xứ) sinh nam nhị, trưởng Phúc Sơn công, thứ Phúc Ngộ công; Tổ thúc Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu Tư Lễ Giám Thủ Thái Giám Tri Quản Ích Điện, Đoan Nghĩa Quận Công, thuỵ Đoan Tĩnh tiên sinh.

Hiển thất đại Tổ khảo: Vũ Huân Tướng Quân Hữu Kiểm Điểm, tự Phúc Sơn phủ quân; Tổ tỷ Phạm quí thị hiệu Từ Đức (hợp táng mả Kỳ Trung xứ) sinh nam nhị, trưởng Đức Trí công, thứ Phúc Thành công; Tổ thúc: Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Bảo Trung Thần Ưng Nhị Vệ Đô Quản Lĩnh, Văn Phong Quận Công, hiệu Phúc Ngộ tiên sinh.

Hiển lục đại Tổ khảo: Tiến Công Lang Tri Thượng Lâm Viện Sự, tự Đức Trí phủ quân; Tổ tỷ Lưu quí thị hiệu Từ Ái (Giáp vị táng mả Lai xứ, Ất vị táng mả Sổ xứ); Tổ thúc: Quang Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân Hùng Uy Vệ Quản Lĩnh Thọ Cường Hầu, thuỵ Phúc Thành tiên sinh.

Hiển cao Tổ khảo tự Đạo Cao phủ quân; Tổ tỷ Nguyễn quí thị hiệu Từ Quảng (Giáp vị táng mả Sổ xứ, Ất vị táng mả Kỳ Trung).

Hiển tằng Tổ khảo tự Đức Thái phủ quân; Tổ tỷ Nguyễn quí thị hiệu Từ Duyên (Giáp vị táng mả Kỳ Trung, Ất vị táng mả Gạo xứ) sinh nam nhị, trưởng Đức Nhuận công, thứ Đức Hiển công.

Hiển Tổ khảo tự Đức Nhuận phủ quân; Tổ tỷ Tôn quí thị hiệu Từ Ý; kế Tổ tỷ Trần quí thị hiệu Từ Hân (Giáp vị táng mả Kỳ điền, Ất vị táng mả tổ Thao Vực, kế vị táng mả Sổ điền); thiếu Tổ khảo: Sơn Nam Đốc Phủ Chủ Bạ, hiệu Đức Hiển phủ quân (táng Trung Thanh xứ Mẫu Lương thôn điền) tách làm tiểu chi.

Hiển khảo Kỳ lục tự Đức Thuỳ phủ quân; Tổ tỷ Trần quí thị hiệu Từ Nhân (hợp táng mả tổ Thao Vực).

Cùng nối đời đạo đức tích luỹ đã lâu, nhớ về cuội nguồn lòng này chẳng quên, ngửa mặt nương tựa Tổ Tiên che chở lưu lại khoảng ruộng 3 sào làm khu mộ. Thửa đất này Tổ Tiên ta để lại có phong khí tốt, nay kính cẩn tới đất ấy đắp Đàn dựng Bia, liệt kê thuỵ hiệu theo ngôi thứ nêu công đức sáng ngời để làm nơi hợp tế Xuân hàng năm gồm toàm Họ bàn thống nhất thuận lòng và vị trí ruộng cúng đều khắc mặt sau bia truyền lại lâu dài nhĩ tôn Tưởng Đức Gia cung kí.

Vào năm đầu triều vua Minh Mạng, là năm Canh thìn tháng 11 ngày Đông Chí dâng dựng Bia.

Nội dung khắc ở bia Thuỷ Tổ.

Mặt trước.

Lăng tám vị Tổ họ Tưởng

Hiển Thuỷ Tổ khảo Tưởng Tướng Công

tự là Đức Tiên phủ quân, Gĩô ngày mồng một tháng Giêng.

Hiển Thuỷ Tổ tỷ Ngô quý thị

hiệu là Bảo Sinh an nhân, Gĩô ngày mười lăm tháng Bẩy.

đời Trần Dụ Tông, niên hiệu Thiệu Phong (1341 – 1357)

Hiển tổ khảo đời thứ hai Tưởng Quý Công

tự là Đức Tiến phủ quân, Gĩô ngày mồng ba tháng Ba.

Hiển tổ tỷ đời thứ hai Nguyễn quý thị

hiệu là Diên Trường an nhân, Gĩô ngày mồng năm tháng Năm.

đời Trần Duệ Tông, niên hiệu Long Khánh (1373 – 1377)

Hiển tổ khảo đời thứ năm Tưởng Quý Công

tự là Phúc Khê phủ quân, Gĩô ngày hai bẩy tháng Tám.

Hiển tổ tỷ đời thứ năm Mạc quý thị

hiệu là Từ Ái an nhân, Gĩô ngày hai nhăm tháng Tư.

đời Lê Nhân Tông, niên hiệu Thái Hoà (1443 – 1453)

Hiển tổ khảo đời thứ sáu Tưởng Quý Công

tự Đức Khê phủ quân, thọ 75 tuổi, Gĩô ngày hai chín tháng Chín.

Hiển tổ tỷ đời thứ sáu Ngô quý thị

hiệu Từ Tín an nhân, thọ 70 tuổi, Gĩô ngày hai mươi tháng Mười.

đời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497)

Mặt sau bia

VĂN BIA TƯỞNG ĐẠI TỘC

Họ Tưởng ta thuộc dân tộc Kinh ở Việt Nam có nguồn gốc lâu đời, theo phả Tưởng đại tôn tại Tả Thanh Oai và các địa phương, Họ Tưởng tính đến nay là 23 đời, thời gian gần 700 năm. Nay tu tạo Lăng Bia, mặt trước khắc Bài Vị 8 Tổ táng tại đây, mặt sau khắc Tổ họ Tưởng ở các địa phương, Tộc trưởng các đời và Tổ thúc hiển đạt.

Thuỷ Tổ sống ngang niên hiệu Thiệu Phong 1341 – 1357 Trần Dụ Tông, Tưởng tướng công tự Đức Tiên, sinh vào đầu thế kỷ XIV, Tổ mất táng tại Tả Thanh Oai – Tranh Trì – Hà Nội (Hà Đông cũ).

Tổ đời thứ 2 (niên hiệu Long Khánh 1373 – 1377) Tưởng Đức Tiến.

Tổ đời thứ 3 ( niên hiệu Trùng Quang 1409 – 1413) Tưởng Đức Ngu thọ 81 tuổi.

Tổ đời thứ 4 ( niên hiệu Thuận Thiên 1428 – 1433), Tưởng Đức Chính thọ 99 tuổi, sinh 6 nam.

Tổ đời thứ 5 (niên hiệu Thái Hoà 1443 – 1453) gồm 6 chi là: chi trưởng Tưởng Phúc Khê; chi 2 Tưởng Hiền Nhân; chi 3 Tưởng Thủ Hoà; chi 4 Tưởng Phúc Chính; chi 5 Tưởng Phúc Sơn; chi 6 Tưởng Phúc Huy, nay hình thành 6 đại chi tộc phát triển thành nhiều chi, nhánh, phái từ Bắc vào Nam. Dưới đây là những địa phương có nhiều đời Họ Tưởng đang sinh sống:

Thành phố Hà Nội, huyện Thanh Trì, xã Tả Thanh Oai có 4 đại chi thờ Thuỷ Tổ 23 đời Tưởng tướng công tự Đức Tiên; thôn Huỳnh Cung có 2 chi thờ Tổ 13 đời Tưởng Phúc Giang; xã Hữu Hoà có 2 chi thờ Tổ 13 đời Tưởng Phúc Hà.

Tỉnh Hà Tây, huyện Thanh Oai, xã Phú Lương, thôn Văn Nội có 6 chi thờ Tổ 19 đời Tưởng Phúc Sơn; Huyện Chương mỹ, xã Hoàng Diệu có 2 chi thờ Tổ 8 đời Tưởng Minh; huyện Ứng Hoà, xã Tảo Dương Văn có 2 chi họ Tưởng.

Tỉnh Quảng Bình, huyện Quảng Trạch, xã Quảng Tùng; tỉnh Hà Tĩnh, huyện Kỳ Anh, xã Kỳ Liên; tỉnh Nghệ An, huyện Nam Đàn, xã Đồng Châu, làng Dương Liễu; huyện Thanh Chương, xã Quảng Thái, xã Bích Triều các chi thờ Tổ 17 đời Tưởng Đông Cung.

Tỉnh Quảng Nam, huyện Đại Lộc, xã Đại Hiệp, xã Đại Thạch; huyện Điện Bàn, xã Điện Thắng, Điện Tiến, Điện Hoà, Điện Hồng; thị xã Tam Kỳ, phường Trường Xuân các chi tôn thờ Tổ 11 đời Tưởng Phủ Quang Công. Hiện nay trên mọi miền tổ quốc còn có nhiều chi tộc họ Tưởng đang sinh sống.

Họ Tưởng theo (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) năm 1406 có “Thiêm phán Tưởng Tư” đi sứ sang nhà Minh, năm 1448 có “ Chuyển vận Phó sứ Tưởng Thừa Hy làm Trung đô phủ Thiếu Doãn”.

Tổ đời thứ 6 (niêm hiệu Hồng Đức 1470 – 1497), Tưởng Phúc Khê thọ 75 tuổi.

Tổ đời thứ 7 hàm: “Quang Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân, Phụng Thánh Thiên Định Nhị Vệ Đô Quản Lĩnh Tước Phúc Toàn Quận Công” Tưởng Tu Đạo (sinh 1498 – mất 1573); Tổ thúc hàm: “Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, Tư Lễ Giám Thủ Thái Giám Tri Quản Ích Điện, Tước Đoan Nghĩa Quận Công” Tưởng Đoan Tĩnh.

Tổ đời thứ 8 chức “Vũ Huân Tướng Quân Hữu Điểm Kiểm” Tưởng Phúc Sơn (1523 – 1582); Tổ thúc chức “Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Bảo Trung Thần Ưng Nhị Vệ Đô Quản Lĩnh Văn Phong Quận Công” Tưởng Phúc Ngộ.

Tổ đời thứ 9 chức: “Tiến Công Lang Tri Thượng Lâm Viện Sự” Tưởng Đức Trí (1572 – 1627), sau theo đạo Phật được Vua ban hiệu “Tông Đầu Trí Tuệ Bồ Tát”; Tổ thúc chức: “Quan Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân, Hùng Uy Vệ Quản Lĩnh Thọ Cường Hầu” Tưởng Phúc Thành.

TTổ đời thứ 10 chức: “Tiến Công Lang Tri Thượng Lâm Viện Sự” Tưởng Đạo Cao (1610 – 1644).

Tổ đời thứ 11 Tưởng Đức Thái (1644 – 1714).

Tổ đời thứ 12 Tưởng Đức Nhuận (1670 – 1719); Tổ thúc đỗ khoa Tân Mão (1711) chức: “Sơn Nam Đốc Phủ, Chủ Bạ” Tưởng Đức Hiển.

Tổ đời thứ 13 Tưởng Đức Thuỳ (1718 – 1789).

Tổ đời thứ 14 là: “Cung Thận Lang Chức Tư Vụ Bộ Hộ Tước Gia Đức Tử, Tưởng Đức Gia (1747 – 1822); Tổ thúc hàm: “Hoa Sơn Đại Tướng Quân” Tưởng Đức Thành.

Tổ đời thứ 15 là: “Phụng Nghị Đại Phu, Sơn Nam Trấn Thư Ký, Tước Thanh Sơn Bá” Tưởng Phúc Thuần (1776 – 1843). Năm 1820 đại tộc họ Tưởng đã quyết định dựng bia: “Tưởng Đại Tôn Hợp Tự Chi Bia” để Tế Tổ hàng năm vào ngày Chủ Nhật sau Rằm tháng Giêng.

Tổ đời thứ 16 là: “Tổng Giáo Huyện Phù Yên, Tỉnh Hưng Hoá” Tưởng Phúc Chân (1806 – 1872).

Cụ đời thứ 17 là: “Thập Lý Hầu” Tưởng Huy Điều, hiệu Đức Cương (1844 – 1904).

Cụ đời thứ 18 là: “Lý Trưởng Hàm Tòng Cửu Phẩm Bá Hộ” Tưởng Bá Hoành, hiệu Minh Ngọc (1870 – 1930).

Cụ đời thứ 19 là: “Lý Trưởng” Tưởng Đại, hiệu Hương Đại (1892 – 1966); (chi 2 đời thứ 19) cụ Tưởng Dân Bảo (1907 – 1947) đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đặc phái viên Uỷ Ban Hành Chính kháng chiến Nam Bộ, Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ Ban Hành Chính kháng chiến tỉnh Châu Đốc, mộ ở nghĩa trang Liệt Sĩ thành phố Hồ Chí Minh.

Cụ đời thứ 20 Tưởng Văn Hợp tự Văn Kình (1918 – 1985).

Kế tục và phát huy truyền thống tốt đẹp của Tổ Tiên, ngày nay con cháu họ Tưởng đã và đang đóng góp nhiều công sức trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Ban liên lạc, ban khánh tiết nghị sự thực hiện tâm đức của toàn họ về việc tu tạo Lăng Bia. Tộc trưởng đời thứ 21 Tưởng Văn Hoà cung ký.

Khánh thành ngày Đông Chí năm Quý Mùi “2003” Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nội dung bia đá mộ tổ mười chín đời.

( Mặt trước bia khắc bài vị )

Nhị vị tổ tưởng tộc chi lăng


Thời                  Hiển tổ khảo mười chín đời Tưởng Quý Công

Trần                              tự Đức Ngu phủ quân.

Mạt                   Hưởng dương 81 tuổi kỵ (5 -6) âm lịch.

Thuộc              Hiển tổ tỷ mười chín đời hiệu Từ Duệ an nhân.

Minh                             kỵ (4 – 4) âm lịch

Vĩnh                        Hai cụ tổ hợp táng tại đây

Lạc                (sứ cây Trai thuỳ Canh Long, toạ Dậu hướng Mão)

xét về ý nghĩa tầm quan trọng của việc học hành, đào tạo nhân tài, Hồ Chủ Tịch từng nói: “non sông Việt Nam ta có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, phần lớn nhờ công học tập của các cháu”.

đầu thế kỷ thứ XX, lãnh tụ Lê Nin từng nói: “học, học nữa, học mãi”.

Vào thế kỷ thứ XV, năm 1484 triều vua Lê Thánh Tông, tại Quốc Tử Giám Văn Miếu của dân tộc ta, cụ Thân Nhân Trung đã soạn văn khắc bia đá: “hiền tài là nguyên khí của quốc gia….”.

Ngay từ thế kỷ thứ XIV vào thời nhà Trần cụ tổ Đức Ngu tiên sinh đã từng răn dậy rằng: “người có năng lực thì làm được nhiều việc chứ dốt không có năng lực thì chẳng làm được gì, do vậy cần phải học nhiều không được tự mãn”.

Cụ tổ Đức Ngu tiên sinh là một tấm gương sáng về sự ham học hỏi, uyên bác, khiêm tốn, đức độ.

Dân tộc Việt Nam ta có truyền thống hiếu học, truyền thống tôn sư trọng đạo từ ngàn xưa. trong đó có họ tộc Tưởng ta. Ngay từ thời kỳ rất xa xưa các vị tiên tổ đã hiểu được tầm quan trọng của việc học tập đào tạo nhân tài, đã chú ý quan tâm nhắc nhở con cháu học tập rèn luyện.

Con cháu nội ngoại ngày nay cần phải ghi nhớ, tự hào, ra sức phấn đấu rèn luyện để không làm hổ danh tiên tổ và sự mong đợi của các vị tiền nhân.

Hậu duệ đời thứ 21 Kỹ sư Tưởng Thái Hưng ghi lại nhân ngày dựng bia.

đông chí tháng 11 năm Quí Mùi 2003 CHXHCNVN.

( Mặt sau bia khắc bài)

Sáng danh tiên tổ

Họ Tưởng đã là một trong các dòng họ lâu đời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam kể từ thời Thiệu Phong cụ Thuỷ tổ Tưởng Tướng Công Đức Tiên công tiên sinh có gia phả đến nay đã hơn 700 năm, trải tới 23 thế hệ, thế hệ nào cũng chăm học, chăm làm, khiêm nhường đức độ, thấm nhuần lời dạy của tổ tiên : “trung hiếu trì gia viễn-đức nhân xử thế thường” cho nên nhiều cụ học hành thành đạt.

Họ Tưởng ta vốn là văn hiến, văn với võ đều hiền, đời danh vong nước Nam. Tại quê hương nơi đây còn truyền tụng câu ca “Nguyễn tộc khai khoa-Ngô gia lập ấp –Tưởng tộc Quận công”

Họ Tưởng ta ở nước Nam là một dòng họ có danh tiếng, thi đỗ khoa giáp, quan hàng tấn, thân vinh hoa vinh thịnh hàng trăm năm đến nay. Quan cao đứng hàng Quận Công liên tiếp ba cụ, nổi tiếng nối đời là bậc hiền lương trung thần, thật xứng dang với bốn chữ vàng : “trung hiếu –nghĩa truyền”. mà người khôi ngô, bụng lành sáng, mỗi việc tốt đời cùng liền nhau.

Cụ tổ đây, tuổi trẻ rất ham học nên khi có tuổi tinh thông đủ loại kinh điển. Tuy nhiên, cụ vẫn chưa lấy làm thoả mãn. Cụ khiêm tốn tự đặt hiệu là Ngu để tự răn mình gắng học hỏi hơn nữa (ví như các nhà thông thái khi được các đấng Quân Vương hỏi ý kiến về việc gì, thường khiêm tốn nói: “theo ý ngu thần thì…”). Cụ thường dạy con cháu: “người có năng lực thì làm được nhiều việc chứ dốt không có năng lực thì chẳng làm gì được gì. do vậy, cần phải học nhiều không được tự mãn”. Cụ tổ thật là tấm gương sáng về sự ham học mà khiêm tốn.

Nhân buổi thiên hoà toàn họ kính cẩn dựng bia xây lăng mộ cụ tổ, trên có biểu tượng khuê văn, biểu dương gương sáng của cụ tổ và các bậc tiền nhân tiên tổ, và công lao năm bậc tôn thân: cụ Phúc Toàn Quận Công, cụ Đoan Nghĩa Quận Công, cụ Văn Phong Quận Công, cụ Phúc Thành Đại Tướng Quân, cụ Đức Hiển công là bậc trí thức họ ta đã làm rạng rỡ tổ tông, muôn đời ghi nhớ và kính cẩn phụng thờ.

Xưa nay, hiền tài là nguyên khí của quốc gia: nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu và thấp hèn. Đối với gia đình họ tộc cũng vậy: con cháu hiền tài thì vẻ vang hưng thịnh và rạng rỡ tổ tông.

Công đứcvà gương sáng của tổ tiên, đặc biệt là tấm gương ham học hỏi mà khiêm tốn và lời dạy của cụ tổ như sao khuê soi sáng muôn đời. Con cháu nội, ngoại cần phải noi gương, ra sức học tập phấn đấu để họ Tưởng ta có nhiều hiền tài cho đất nước.

Là viễn tôn đồng lòng xin nguyện “tư bồi đức thụ –vụ quảng tâm điền” noi gương tổ tiên: “cần kiệm gây cơ nghiệp –trung hậu giữ gia thanh –chăm chỉ và học hành –làm rạng danh tiên tổ”

đoàn kết công bằng bác ái.

Tưởng tộc đồng kính bái

Hậu duệ đời thứ 21 Kỹ sư Tưởng Thái Hưng cùng thừa lệnh mẫu mệnh kính làm bài ký.

Học vị , học hàm (tuổi, năm đỗ, cương vị công tác):

KHOA BẢNG, VĂN QUAN - VÕ QUAN

Họ Tưởng ở làng Tả thanh oai.

Văn quan :

1 - Thiêm phán: Tưởng Tư (đời thứ 3), đi sứ sang nhà Minh năm 1406. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II trang 245, tập IV trang 426).

2 - Chuyển vận phó sứ : Tưởng Thừa Hy (đời thứ 5), làm Trung đô phủ Thiếu doãn, năm 1448. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập III trang 141, tập IV trang 426).

3 - Cụ Tưởng Bá Linh (tổ thúc chi trưởng,đời thứ 7), hiệu Đoan Tĩnh Công sinh năm Tân Dậu 1501 ….Hàm: “Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tư lễ giám thủ thái giám tri quản ích điện, tước Đoan Nghĩa quận công”.

4 - Cụ Tưởng Đức Trí (chi trưởng, đời thứ 9), sinh năm Nhâm Thân 1572- mất năm 1627, chức: “Tiến Công Lang Tri Thượng Lâm Viện Sự”. Sau theo đạo Phật được Vua ban hiệu: “Tông Đầu Trí Tuệ Bồ Tát”.

5 - Cụ Tưởng Đạo Cao (chi trưởng, đời thứ 10) sinh năm Canh Tuất 1610 mất năm 1644, chức: “Tiến Công Lang Chi Thượng Lâm Viện”.

6 - Cụ Tưởng Đức Hiển (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 12) (sinh năm Kỷ Mùi 1679 - mất năm 1759) thọ 81 tuổi: Đỗ khoa Tân Mão (1711). Lần lượt được bổ nhiệm các chức quan ở Thái Nguyên, Sơn Tây. Rồi về sau làm sung chức Đốc phủ ở Sơn Nam, rồi làm chức chủ bạ. “Sơn Nam Đốc phủ, Chủ bạ”.

7 - Cụ Tưởng Ngô Đạo là (Ngô Tưởng Đạo –em ruột cụ Ngô Thì Sỹ) tự Văn Túc Công, (thứ chi, ngang đời thứ 14), thi đỗ giải Nguyên khoa Hoành Từ làm quan chức Thanh hình hiến sát sứ ở Kinh Bắc (tức quan án sát). Được thừa tự chi thứ của cụ Tưởng Đức Hiển (nuôi cháu ngoại làm người nối dõi).

8 - Cụ Tưởng Đức Gia (chi trưởng, đời thứ 14), sinh năm Đinh Mão 1747 mất năm 1822, chức Cung Thận Lang, Tư Vụ, Bộ Hộ. Tước Gia Đức Tử.

9 - Cụ Tưởng Phúc Thuần (chi trưởng, đời thứ 15), sinh năm Bính Thân 1776 mất năm 1843, chức: Phụng Nghị Đại Phu, Sơn Nam trấn Thư ký, tước Thanh Sơn Bá.

10 - Cụ Tưởng Phúc Chân (chi trưởng, đời thứ 16), sinh năm Bính Dần 1806 mất năm 1872, chức: Tổng Giáo ở huyện Phù Yên, tỉnh Hưng Hóa.

Võ quan:

1 - Cụ Tưởng Tu Đạo (chi trưởng, đời thứ 7), sinh năm Mậu Ngọ 1498 mất năm 1573, hàm: Quang Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân, Phụng Thánh -Thiên Định Nhị Vệ Đô Quản, lĩnh tước Phúc Toàn Quận Công.

2 - Cụ Tưởng Phúc Sơn (chi trưởng, đời thứ 8), sinh năm Qúy Mùi 1523 mất năm 1582, chức: Vũ Huân Tướng Quân Hữu Điểm Kiểm.

3 - Cụ Tưởng Phúc Ngộ (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 8), sinh năm Bính Tuất 1526 mất ….., chức: Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Bảo Trung –Thần Ưng Nhị Vệ Đô Quản, lĩnh Văn Phong Quận Công.

4 - Cụ Tưởng Phúc Thành (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 9), sinh năm Nhâm Tý 1552 mất…., chức: Quang Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân Hùng Uy Vệ Quản Lĩnh Thọ Cường Hầu.

5 - Cụ Tưởng Đức Thành (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 14), sinh năm Giáp Tuất 1754 mất……, chức: Hoa Sơn Đại Tướng Quân.

Sau cách mạng tháng 8-1945

1 - Cụ Tưởng Dân Bảo (thuộc chi 2, đời thứ 19), sinh năm Đinh Mùi 1907 mất năm Đinh Hợi 1947. Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, đặc phái viên ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ, bí thư kiêm chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Châu Đốc. Mộ táng ở nghĩa trang liệt sỹ thành phố Hồ Chí Minh, được nhà nước tặng huân chương Hồ Chí Minh. Đặc biệt là người có công dẫn đoàn đi đón 1800 đồng chí tù chính trị ở Côn Đảo ngày 23-9-1945 về đất liền làm tiêu tan âm mưu thủ tiêu các đồng chí này của địch khi chúng tái chiếm Nam Bộ cùng ngày 23-9-1945.

Con em họ Tưởng thuộc làng Tả Thanh Oai có bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ

1  Tưởng Bích Trúc, sinh năm 1926, Bác sỹ,  Tiến sĩ y khoa 1972.

2 Tưởng Duy Hiếu, sinh năm 1929, Cử nhân Kinh Tế 1960, Đại tá tổng cục hậu cần.

3 Tưởng Bích Thọ, sinh năm 1930, Kỹ sư thuỷ lợi.

4 Tưởng Thị Hội, sinh năm 1945, kỹ sư hoá (ĐHBK) 1968, Tiến sĩ Ngành hoá 1979, Giảng viên ĐHBK.

5 Tưởng Bích Vân, sinh năm 1949, Bác sỹ (ĐHYK) 1971.

6 Tưởng Văn Ngữ, sinh năm 1949, Cử nhân (ĐH kinh tế QD) 1984, Giám đốc trung tâm giới thiệu việc làm thuộc sở lao động, thương binh, xã hội (Hà Sơn Bình cũ- Hà Nội Mới).

7 Tưởng Hoài Nam, sinh năm 1951, Kỹ sư (ĐHBK) 1973, Đại tá về hưu.

8 Tưởng Bích Hà, sinh năm 1955, Kỹ sư (ĐHBK), Tiến sĩ hoá dầu 1986 ở Tây Đức.

9 Tưởng Văn Hoà, sinh năm 1952, Bác sĩ Đa khoa (ĐH quân y) 1978, Thượng uý quân y.

10 Tưởng Vũ Cường, sinh năm 1953, Kỹ sư Xây dựng 1974, Thạc sĩ (khoa học – xã hội) 1999, Giảng viên ĐH xây dựng.

11 Tưởng Thanh Hùng, sinh năm 1955, Kỹ sư điện tử 1978, Phó TGĐ công ty  SHIMADZU.

12 Tưởng Vũ Dũng, sinh năm 1955, Kỹ sư máy (ĐHBK) 1980, PGĐ cty dụng cụ số I, Hà Nội.

13 Tưởng Công Sinh, sinh năm 1956, Cử nhân Kinh tế (ĐH ngoại thương) 1982, Trưởng phòng Hợp tác song phương thuộc Vụ Quan hệ quốc tế, Tổng cục hải quan Việt Nam.

14 Tưởng Bích Sơn, sinh năm 1963, Kỹ sư (ĐHBK).

15 Tưởng Thái Hưng, sinh năm 1964, Kỹ sư hoá (ĐHBK) 1986, Doanh nghiệp Nước chấm Việt Hồng- Hà Nội.

16 Tưởng Duy Hiệp, sinh năm 1964, Kỹ sư máy (ĐHBK) 1986, GĐ cty vật tư & xây dựng.

17 Tưởng Thị Hồng Hạnh, sinh năm 1965, Bác sỹ Y khoa 1989, Tiến sĩ Y khoa 2002, Bs siêu âm BV quân y 108.

18 Tưởng Bích Thuỷ, sinh năm 1966, Kỹ sư (ĐHBK).

19 Tưởng Đỗ Hiển, sinh năm 1970, Cử nhân Luật (ĐH quốc gia Hà Nội) 2004.

20 Tưởng Thị Hồng Hạnh, sinh năm 1971, Cử nhân (ĐH kinh tế tài chính) 1995, Trưởng phòng kinh doanh Fphôn.

21 Tưởng Đỗ Huy, sinh năm 1971, Cử nhân Kinh tế (ĐH kinh tế QD) 1999.

22 Tưởng Đỗ Hưng, sinh năm 1977, Cử nhân Du lịch (ĐH khoa học xã hội – nhân văn) 2000.

23 Tưởng Mạnh Hải, sinh năm 1978, Cử nhân (ĐH quản trị kinh doanh), làm trung tâm giới thiệu việc làm Sở LĐTBXH Hà Nội.

24 Tưởng Thanh Thuỷ, sinh năm 1983, Cử nhân (ĐH thể dục thể thao) 2005.

25 Tưởng Anh Minh, sinh năm 1985, Cử nhân HV chính trị 2006.

26 Tưởng Thị Kim Anh, sinh năm 1987, Cử nhân CĐ Quản trị nhân lực 2007.

27 Tưởng Đỗ Quân, sinh năm 1989, Cử nhân Quản trị (ĐH công đoàn) 2009.

28 Tưởng Hoàng Nam sinh năm 1988, Cử nhân Quản trị (ĐH thương mại) 2010.

Sĩ quan: cấp Tá, uý:

1 – Tưởng Duy Hiếu sinh năm 1929, nhập ngũ năm 1949 nghỉ hưu năm 1989: Đại tá, chuyên gia quân sự Lào.

2 – Tưởng Xuân Hồng sinh năm 1938, nhập ngũ 1964 chuyển ngành 1972, cấp bậc Chuẩn uý: Đại đội 80 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 673 Sư đoàn 316.

3 - Tưởng Hoài Nam, sinh năm 1951, Kỹ sư thông tin (ĐHBK) 1973, Đại tá về hưu.

4 – Tưởng thị Tuyết sinh năm 1951 nhập ngũ 1968 nghỉ hưu 2001: Thiếu tá quân y, Viện y học cổ truyền quân đội.

5 – Tưởng Văn Hoà sinh năm 1952 nhập ngũ 1972 chuyển ngành năm 1985: Thượng uý Bác sĩ Tiểu đoàn quân y Sư đoàn 325 sau đổi thành Sư đoàn 395 Đặc khu Quảng Ninh.

6 - Tưởng Thị Hồng Hạnh sinh năm 1965 nhập ngũ 1985: Thượng tá, Tiến sĩ Y học viện quân y 108.

7 – Tưởng Anh Minh sinh năm 1975 Tốt nghiệp Học viện Chính trị - Quân sự năm 1998, cấp bậc Đại uý Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 Sư đoàn 330 Quân khu 9 Tỉnh An Giang.

25 - HỌ VŨ

Sĩ quan:

Vũ Văn Lịch Đại uý đã nghỉ hưu.


Biên soạn: Bác Tưởng Văn Hoà.

Ngày 16 - 9 - 2011.