Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
Làng khoa bảng Tả Thanh Oai (Tập 7/7)
Thứ bảy, 08 Tháng 10 2011 04:55

 

Làng khoa bảng Tả Thanh Oai (Tập 7/7)

KẾT LUẬN

1 – CÁC ĐIỀU KIỆN TẠO NÊN TRUYỀN THỐNG KHOA CỬ

Làng Tả Thanh Oai, là một làng ven đô ở phía Nam kinh đô Thăng Long – Hà Nội, một trong tứ trấn của kinh thành, trung tâm văn hoá của cả nước, với nhiều dòng họ thông minh và hiếu học. Làng cũng thăng trần theo “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà”.

Thời Trần, cụ Ngô Vi hiệu Phúc Quảng tiên sinh, là Quốc tử giám học quan; cụ Ngô Vi hiệu: Phúc Diễn tiên sinh, làm Quan lộc đại phu Hoành đài tuyên phủ sứ, thập tam đạo giám sát ngự sử.

Thời Hồ: cũng đã có cụ ra làm quan được ghi vào sử, sách Đại Việt Sử Kí Toàn Thư như cụ tả lang trung Hình bộ là Phạm Canh năm (1405), cụ thiêm phán Tưởng Tư năm 1406.

Thời Lê Sơ: quan võ có cụ Tưởng Thừa Hy năm 1448 làm Trung đô phủ Thiếu doãn

Cụ Trụ Quốc Tướng Công - Hồ Thuỵ Dưỡng Hạo tiên sinh, thuỷ tổ của chi họ Nguyễn khai khoa ở làng Tả Thanh Oai. Năm 1460 thi chúng khoa Hoành Từ. giữ chức Quan phụ chính. Cụ được phong tước Dụ ân Hầu, trụ quốc.

cụ Nguyễn Chỉ đời thứ nhất họ Nguyễn khai khoa. Năm 1453, Đỗ  tiến sĩ

Cụ Nguyễn Khánh Dung họ Nguyễn khai khoa: Năm 1478, đỗ Tiến Sĩ, Làm quan Quốc Tử Giám Tế tửu.

Thời nhà Mạc – Lê Trung Hưng:

Cụ Tưởng Tu Đạo (chi trưởng, đời thứ 7), (1498-1573), tước Phúc Toàn Quận Công.

Cụ Tưởng Bá Linh (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 7), tước Đoan Nghĩa quận công.

Cụ Tưởng Phúc Ngộ (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 8), lĩnh Văn Phong Quận Công.

Cụ Lưu Phúc Diễn thuỵ Đức Trọng tiên sinh phong tặng Kiêm Quận Công.

Cụ Ngô Vi Đình (Thạc) (1542-1619), tự Sĩ Thường: Trụ quốc, Dĩnh Dương Hầu.

Cụ Tưởng Phúc Thành (tổ thúc chi trưởng, đời thứ 9), Lĩnh Thọ Cường Hầu.

Cụ Ngô Vi Mạch (1583-1645), Quốc tử giám học quan Chỉ thụ giảng dụ.

Cụ Ngô Vi Bàn (1602-1674), Tham nghị Mỹ Trung Nam.

Cụ Ngô Vi Viêm, gia tăng Ngự sử đài, Đô ngự sử. Thế Hiển Hầu.

Cụ Ngô Tuấn Dị (1655-?) Tiến sĩ năm Chính Hoà 9 (1688).

Cụ Ngô Vi Thực  (1663-1704) Tiến sĩ năm Chính Hoà 12 (1691).

Cụ Ngô Vi Nho (1659-?) Tiến sĩ năm Chính Hoà 15 (1694).

Cụ Ngô Đình Thạc (1678-1740) Tiến sĩ, Quận Công năm Chính Hoà 21 (1700).

Cụ Ngô Đình Chất (1686-1754) Tiến sĩ, Quận Công năm Bảo Thái 2  (1721).

Cụ Nguyễn Tông Trình (1787-?) Tiến sĩ năm Cảnh Hưng 15 (1754).

Cụ Ngô Thì Sĩ (1725-1780) Tiến sĩ năm Cảnh Hưng 27 (1766).

Cụ Nguyễn Nha (1750-1816) Tiến sĩ năm Cảnh Hưng 36 (1775).

Cụ Ngô Thì Nhậm (1746-1803) Tiến sĩ, năm Cảnh Hưng 36 (1775).

Thời nhà Nguyễn:

Cụ Ngô Điền (1814-?) Tiến sĩ năm Thiệu Trị 1  (1841).

Thời phong kiến Nho học có 40 cụ đỗ trung khoa: (Hoành Từ, Hương cống, Cử nhân)

Thời kỳ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà: sau năm 1945.

Cụ Tưởng Dân Bảo (1907 1947) Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đặc phái viên ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ, Bí thư kiêm Chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Châu Đốc.

GIÁO SƯ, TIẾN SĨ, THẠC SĨ, CỬ NHÂN LÀNG TẢ THANH OAI GỒM 384 VỊ.

So với cả nước có khoảng 3 triệu người có trình độ đại học trở lên.

GIÁO SƯ có 7 vị, trong đó cả nước có trên 6.000 GS, PGS.

1 - Ngô Vi Hùng: chi 2, Phó giáo sư, phó tiến sĩ, Đại tá bác sĩ quân y.

2 - Ngô Vi Thiện: chi 3, Giáo sư lịch sử quân sự.

3 – Nguyễn Quýnh sinh năm 1927 Tiến sĩ, Phó Giáo sư 1984 giảng dậy Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân.

4 – Nguyễn Thuỵ Loan sinh năm 1945 Tiến sĩ , Phó giáo sư 1988 Nhạc Viện Âm nhạc Bungari.

5 –Trần Kim Anh: Cử Nhân vật lý (1970), Tiến Sĩ vật lý (1988), phó Giáo Sư vật lý (1996).

6 – Trần Đại Lâm: phó Giáo sư, Tiến sĩ (2009).

7 – Triệu Triều Dương, Đại tá viện Quân y 108, Bác sĩ 1985, Tiến sĩ y học 2003, Phó Giáo sư y học 2009.

TIẾN SĨ có 21 vị, trong đó cả nước có trên 18.000 Tiến sĩ.

1 - Tưởng Bích Trúc, sinh năm 1926, Bác sỹ,  Tiến sĩ y khoa 1972.

2 – Nguyễn Huyến sinh năm 1937 đỗ Tiến sĩ 1969 ngành Hoá Học , giảng dạy tại Mỹ.

3 – Nguyễn Hữu Đễ sinh năm 1954 Tiến sĩ Triết học Viện Mác-LêNin.

4 – Nguyễn Hữu Sáu sinh năm 1964 Tiến sĩ Y khoa.

5 - Ngô Đình Duyên – Tiến sĩ 1965

6 - Trần Đàm: Cử Nhân vật lý (1967), Tiến Sĩ vật lý (1977).

7 - Tưởng Thị Hội, sinh năm 1945, kỹ sư hoá (ĐHBK) 1968, Tiến sĩ Ngành hoá 1979, Giảng viên ĐHBK.

8 - Tưởng Bích Hà, sinh năm 1955, Kỹ sư (ĐHBK), Tiến sĩ hoá dầu 1986 ở Tây Đức.

9 – Phạm Hùng Dũng: Tiến sĩ hoá học năm 1989.

10 – Phạm Đức Độ: Tiến Sĩ năm 1997, ngành Điện khí hoá xí nghiệp.

11 - Ngô Ngọc Uyên – Bác sĩ 1994, Tiến sĩ y khoa 1999.

12 - Tưởng Thị Hồng Hạnh, sinh năm 1965, Bác sỹ Y khoa 1989, Tiến sĩ Y khoa 2002, Bs siêu âm BV quân y 108.

13 – Nguyễn Thuý Quỳnh sinh năm 1976 đỗ Tiến sĩ 2004 Âm Nhạc tại Mỹ.

14 - Ngô Trí Lâm –  Tiến sĩ năng lượng nguyên tử hạt nhân 2007.

15 - Ngô Quang Thắng – Tiến sĩ công nghệ hoá 2007

16 - Nguyễn văn Hoàng: Tốt nghiệp Tiến Sĩ tại Canađa, bộ môn công nghệ thông tin (tốt nghiệp 2010).

17 - Nghiêm Đình Nhập đỗ Tiến sỹ (chi thứ tư, sau năm 1945).

18 - Ngô Thị Hồng Châu – Tiến sĩ tin.

19 - Ngô đức Nam- Tiến sĩ hàng không.

20 - Ngô Vi Hải: chi 2, Tiến sĩ, Bác sĩ quân y.

21 - Ngô Minh Khải:Đại tá tiến sĩ KHKT ,Trưởng phòng HTQT.

THẠC SĨ có 27 vị, trong đó cả nước có trên 36.000 Thạc sĩ.

CỬ NHÂN có 329 vị.

Vậy là xưa ở làng Tả Thanh Oai có các dòng họ khoa bảng là:

1 -Họ Ngô Thì có sáu (6) Tiến sĩ.

2 -Họ Nguyễn khai khoa có ba (3) Tiến sĩ.

3 -Họ Ngô Vi có hai (2) Tiến sĩ.

4 -Họ Nguyễn Thế có một (1) Tiến sĩ.

Ngày nay các dòng họ khoa bảng ở Tả Thanh Oai như sau:

1  - Họ Nguyễn Khai Khoa  115     (2 giáo sư)  (4 tiến sĩ)  (3 thạc sĩ)  (106 cử nhân).

2  - Họ Ngô Thì                  58                      (6 tiến sĩ)  (8 thạc sĩ)   (44 cử nhân).

3  - Họ Ngô Vi                    31    (2 giáo sư)  (2 tiến sĩ)                    (27 cử nhân).

4  - Họ Tưởng                    28                     (4 tiến sĩ)  (1 thạc sĩ)    (23 cử nhân).

5  - Họ Nguyễn Thế            28                                    (3 thạc sĩ)    (25 cử nhân).

6  - Họ Trần                       21   (2 giáo sư)  (1 tiến sĩ)  (4 thạc sĩ)     (14 cử nhân).

7  - Họ Triệu                      18   (1 giáo sư)                  (1 thạc sĩ)     (16 cử nhân).

8  - Họ Nguyễn Đức            17                                    (1 thạc sĩ)    (16 cử nhân).

9  - Họ Phạm                     16                    (2 tiến sĩ)   (2 thạc sĩ)     (12 cử nhân).

10 - Họ Nguyễn Duy           10                                                       (10 cử nhân).

Trong các dòng họ khoa bảng, lại có nhiều gia đình khoa bảng: như gia đình gia đình bà Nguyễn Thị Độ (1 TS, 4 CN); ông Tưởng Bích Trúc (1 TS, 3 CN) .v.v….

- Đánh giá, lý giải sự tiếp nối hay đứt đoạn truyền thống (lý do chiến tranh, kinh tế xã hội.

Qua trên cho thấy làng Tả Thanh Oai tình hình khoa bảng, văn quan, võ tướng liên tục có người làng học hành đèn sách, đi thi và trúng cử, thời bình có nhiều văn quan, thời chiến có nhiều võ tướng từ thời Trần, nhiều nhất vào thời Lê Trung Hưng, thời nhà Nguyễn cũng vì kinh đô ở xa làng được có 1 cụ đỗ đại khoa, thời Pháp thuộc chiến tranh liên miên nên không có cụ nào đỗ Đại Khoa.

Thời kỳ Hoà bình lập lại con em làng Tả Thanh Oai về học hành, khoa bảng cũng đã tiếp nối được truyền thống hiếu học của Tổ tiên. Khoa bảng có bằng Đại học trở lên là 384 vị, sĩ quan trong lực lượng vũ trang, quân đội nhân dân Việt Nam có 44 vị.

2 -MỘT SỐ TỪ, THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN HỌC VỊ, CHỨC QUAN CỦA CÁC VỊ KHOA BẢNG

- Phụ lục (giải thích các từ liên quan đến học vị, chức sắc xưa)

SỐ TỪ, THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC TIẾN SĨ NHO HỌC THĂNG LONG HÀ NỘI.

Để bạn đọc hiểu thêm về sự nghiệp của các tiến sĩ nho học Thăng Long- Hà Nội, dựa vào các sách từ điển chức quan việt nam, quan chức nhà Nguyễn và các bộ sách: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Việt sử ký tục biên, Khâm định việt sử thông giám cương mục. Lịch triều tạp kỷ, Đại nam thực lục v v…….

Kết hợp than khảo ý kiến của nhiều đồng nghiệp cùng những đúc rút từ nhiều năm nghiên cứu, dưới đây tôi lập một bảng giải nghĩa vắn tắt các từ và cụm từ về các đơn vị hành chính các cơ quan, chức quan nhà nước và pháp luật, các văn bản của pháp luật và các hình phạt của pháp luật phong kiến Việt Nam có liên quan đến các vị Tiến sĩ.

1. Ân khoa-Thịnh khoa: kỳ thi không mở theo thường lệ, mà được tổ chức nhân dịp vua mới lên ngôi, vua tròn 40, 50 tuổi, sinh Hoàng tử. ân khoa thường áp dụng với thi Hương, thịnh khoa áp dụng với thi Hội.

Biện lý: chức quan về tư pháp của một bộ thời Nguyễn.

Cách (cách chức): quan mắc lỗi bị mất chức có hai hình thức:

-cách lưu: bị cách mất chức quan nhưng cho ở lại làm việc để thử thách.

-cách ly (hay cách nhiệm): bị cách chức và phải rời đi nơi đang làm quan, chuyển đi nơi khác.

-lưu chức: quan bị tội phạt đánh roi, nhưng được ở lại làm việc.

-lưu dịch: quan bị tội đánh trượng, nhưng được ở lại làm việc.

-triệt lưu: quan đã có chỉ định được thăng chức đổi đi nơi khác, song vì ở địa hạt đã làm quan xảy ra việc can án nên phải đình chức, lưu lại chờ xét.

4. cần tránh điện: là một trong 3 điện (Cần tránh, Văn Minh, Võ hiển) cùng với Đông các được lập dưới triều Nguyễn. Đứng đầu ba Điện và Đông các này là các Đại học sĩ (Cần tránh điện đại học sĩ, Văn Minh điện Đại học sĩ, Võ hiển điện đại học sĩ và Đông các đại học sĩ) là 4 vị đại thần có công, thường là các Thượng thư thực thụ (không phải Quyền, Lãnh), trật Chánh Nhất phẩm, làm việc lâu năm.

5. Cơ mật viện (hay Viện Cơ mật): cơ quan đặt năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phỏng theo Khu mật viện của nhà Tống, Nội mật viện của nhà Trần, đầu Lê Sơ. Thời Nguyễn, cơ mật viên gồm bốn vị “cơ mật đại thành” do vua lựa chọn trong hàng quan văn võ từ Tam phẩm trở lên, thường chọn Thượng thư các bộ, nên là chức danh kiêm nhiệm.

Nhiệm vụ của Cơ mật viện là bàn bạc với nhà vua những công việc trọng yếu của quốc gia về mặt quân sự và an ninh quốc phòng, nên gọi là Cơ mật viện đại thần. Cơ mật viện có hai ban phân theo khu vực địa giới hành chính ở hai miền Nam -Bắc.

6. Chưởng ấn: quan đứng đầu một cơ quan thời Nguyễn, được giữ ấn triện, quyết định các công việc của cơ quan mình. Đây không phải là chức vụ riêng mà chỉ là chức trách.

7. Chưởng lục bộ sự: quan đứng đầu sáu bộ thời Lê Sơ (1428-1527) như Tể tướng.

8. Đài sảnh (hay Ngự sử đài, Đài quan, Ti phong hiến, thời Nguyễn gọi là đô Sát viện”: cơ quan làm nhiệm vụ can gián vua và đàn hặc lỗi lầm của các quan. Các quan ở Đài sảnh gọi chung là Ngôn quan, cũng gọi là Đài quan hay quan Phong hiến, quan Khoa đạo.

Đứng đầu Ngự sử đài có chức Đô Ngự sử (hay Đô Ngự sử Chánh chưởng), trật Chánh Tam phẩm, bên dưới là Phó Đô Ngự sử, trật Tòng Tam phẩm; Thiên Đô Ngự sử (Chánh ngũ phẩm), Ngự sử Trung thừa (Ngự sử Trung tán) …

9. Đại thần cố mệnh: quan đại thần được vua tin cậy, trước khi chết trao cho di chiếu, dặn dò giúp dập thái tử tiếp nối cơ nghiệp.

10. Đê chính: quan trông coi việc đê điều ở ngoài Bắc thời Nguyễn (thường là quan kiêm nhiệm).

11. Đề điệu: chánh chủ khảo một kỳ thi Hương hay thi Hội, Giám thí là Phó Chủ khảo. Đây chỉ là chức tạm thời trong thời gian diễn ra kỳ thi.

12. Đô đốc: võ quan, năm Quang Thuận thứ bẩy (1466), đặt năm phủ quân (Ngũ phủ hay Ngũ quân), tức quân thuộc quan ở Kinh đô và bốn vùng phụ cận, là: Trung quân, Đông quân, Tây quân, Nam quân và Bắc quân phủ. Mỗi phủ quân phụ trách hai Thừa tuyên.

Cơ quan điều hành Ngũ phủ đóng ở Kinh đô Thăng Long là Phủ Đô Đốc, có các chức quan: Tả, Hữu Đô đốc, trật Tòng Nhất phẩm, Đô đốc Đồng tri (Chánh Nhị phẩm), Đô đốc Thiêm sự (Tòng Nhị phẩm), Kinh lược ti Kinh lịch (Tòng Bát phẩm).

13. Đốc đồng: năm Đức Long thứ ba (1631), đặt quan ở các trấn, gồm một viên quan võ làm trấn thủ trông coi việc quân dân nói chung; một viên quan văn làm Đốc đồng, trông coi việc hình án, tư pháp.

14. Đốc thị: chức quan đặt vào năm Quang Hưng thứ 20 (1597) khi quân đội nhà Lê đi đánh quân Mạc. Vào khoảng giữa niên hiệu Long Đức (1732-1735), vì Nghệ An được coi là nơi biên viễn trọng yếu nên dùng các quan văn có hàm Tả hoặc Hữu Thị lang làm Đốc thị và Phó Đốc thị. Chức này lúc cần mới đặt, không câu nệ phẩm trật, chức tước.

15. đốc trấn: thời Lê-Trịnh bãi bỏ Đô ty-cơ quan phụ trách việc quân sự một thừa tuyên từ thời Lê Thánh Tông (1460-1497), đặt trấn phủ, có các chức quan: Đốc trấn, l Lưu thủ, Đốc phủ, Tổng phủ. Từ tháng mười năm Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái (1721) bắt đầu dùng quan văn giữ chức này (trước đó là quan võ)

16. Đông các: cơ quan văn học của nhà vua, Hiệu thư là chức quan hiệu đính các văn bản, trật Chánh Lục phẩm. Người đứng đầu là đại học sĩ (trật Tòng Tứ phẩm).

17. Đông cung Thị giảng: Đông cung (hay Trừ cung) là cung của Thái tử, trước khi được lên ngôi vua, có quan giảng dạy gọi là Đông cung Thị giảng. Thời Lê ở cung này còn có chức Tả (Hữu) Xuân phường, trật Tòng Tam phẩm, giữ việc hầu cận, giúp đỡ, nhắc bảo Thái tử.

18. Đồng bình chương sự: Như Tham tụng (Tể tướng), do Lê Chiêu Thống đặt năm Đinh Mùi (1787).

19. Giải nguyên: Người đỗ đầu kỳ thi Hương (đứng thứ hai là Á nguyên).

Người đỗ đầu kỳ thi Hội là Hội nguyên.

Người đỗ đầu kỳ thi Đình là Đình nguyên, gồm nhiều bậc: Trạng nguyên (thời Nguyễn không đặt), Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, thậm chí chỉ là Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, tuỳ kết quả của từng khoa thi.

20. Giáo thụ: văn quan, phụ trách việc giáo dục ở một phủ, gồm nhiều huyện, trật Chánh Thất phẩm.

21. Giám sát ngự sử: quan ở Ngự sử đài (trật Chánh Thất phẩm) có trách nhiệm cùng với Hiến ty ở các địa phương (Thừa tuyên thời Lê, Tỉnh thời Nguyễn) kiểm soát các quan lại địa phương. Mỗi Giám sát Ngự sử phụ trách một hai Thừa tuyên (hoặc Tỉnh thời Nguyễn).

22. Giáng cấp: giáng cấp bậc của vị quan.

23. Giáng chức: giáng chức vụ (chẳng hạn, giáng Thượng thư xuống làm Thị lang).

24. Hàn lâm viện: cơ quan văn phòng nhà vua, có từ thời Lý, giữ việc khởi thảo chiếu lệnh, gồm nhiều chức danh, với các phẩm trật khác nhau, tuỳ thời song đều là Văn quan:

+ Hàn lâm viện Chưởng viện Học sĩ, giữ việc quản lý Viện, thời Nguyễn có trật Chánh Tam phẩm, thời Lê là Hàn lâm viện Chưởng viện sự, thường có hàm Thượng thư, trật Tòng Nhị phẩm.

+ Hàn lâm viện Trực học sĩ (trật Chánh Tam phẩm), chức phó của Chưởng viện.

+ Hàn lâm viện Biên tu: đặt năm Minh Mạng thứ tám 1827, trật Chánh Thất phẩm, giữ việc biên soạn quốc sử, thực lục.

+ Hàn lâm viện Chế cáo chỉ tồn tại vào thời các chúa Nguyễn.

+ Hàn lâm viện Cung phụng: đặt thời Nguyễn, trật Chánh Cửu phẩm.

+ Hàn lâm viện Đãi chiếu (trật tự Tòng Lục phẩm xuống Tòng Cửu phẩm).

+ Hàn lâm viện Điển bạ: trật Tòng Bát phẩm, nắm việc chương tấu, văn từ, giữ thư viện, có hai Thị thư giúp việc, trật Chánh Lục phẩm, giữ việc chương tấu của Viện, giữ thư viện.

+ Hàn lâm viện Điển tịch: đặt thời Nguyễn, trật Tòng Cửu phẩm, giữ việc khảo sát thư tịch, tài liệu phục vụ việc biên soạn quốc sử.

+ Hàn lâm viện Hiệu lý: có thời Lê, quan chế đời Bảo Thái có trật Chánh Thất phẩm, giữ việc hiệu lý kinh tịch, văn thư.

+ Hàn lâm viện Kiểm thảo (thời Nguyễn là Hiệu thảo) trật Tòng Thất phẩm, giữ việc tu soạn quốc sử.

+ Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ (Chánh Tứ phẩm).

+ Hàn lâm viện Thị độc (Chánh Ngũ phẩm thời Lê, Nguyễn) giúp việc biên soạn sách vở ở một số cơ quan.

+ Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ (chỉ có ở thời Nguyễn, trật Tòng Tứ phẩm) giúp Chưởng viện biên soạn các chỉ dụ, CHương sớ, chế cáo……

+ Hàn lâm viện Thừa chỉ (thời Nguyễn có trật Tòng Ngũ phẩm, lo việc biên soạn giấy tờ trong các Bộ, Viện).

+ Hàn lâm viện Tu soạn (đặt năm Minh Mạng thứ tám 1827) trật Tòng ngũ phẩm, lo việc tu chỉnh, soạn thảo sách vở giúp các Học sĩ.

+ Hàn lâm viện Trước tác (thời Nguyễn có trật Chánh Lục phẩm) biên tập sách, chương sớ của triều đình.

25.Hành: quan có phẩm trật cao mà giữ chức vụ thấp. Nhà nước phong kiến còn có các quy chế thăng bổ và gọi tên các chức quan phụ trách như sau:

-Chưởng: chức quan cao mà phụ trách nha môn có chức trách thấp.

-Điều bổ: chuyển một vị quan từ một chức sang một chức khác có phẩm trật ngang bằng (chẳng hạn, từ Tả Thị làng bộ Hộ sang Hữu Thị lang bộ Lễ…).

-Hộ lý: quan có hàm thấp hơn hai bậc mà được giữ chức đó.Cách gọi này thường chỉ áp dụng cho quan lại cấp tỉnh thời Nguyễn.Ví dụ: Bố chính (hoặc Án sát) của một tỉnh nhỏ được cử làm Tổng đốc, hoặc Tuần phủ của tỉnh nhỏ được cử làm Tổng đốc nên còn gọi là Hộ đốc.Ví dụ hộ đốc tuần phủ.

-Lãnh: quan đã có một chức rồi mà lãnh nhiệm một hoặc hai chức khác thấp hơn, gần như Kiêm.

-Ly chức: quan được thăng chức, nhưng nhận nhiệm vụ ở nơi khác.

-Quyền: quan kém một bậc mà được nắm quyền đó, giống như Thự nên thường được gọi là Quyền-Thự).

-Quyền nhiếp: khi một chức (thường là Trưởng quan) bị khuyết thì cử một vị quan khác ngang hàng (trật tước) ở cùng địa hạt hoặc bộ giữ chức tạm thời.

-Thí (Thí sai): cho vị quan tập làm thử,chưa chính thức bổ dụng.

-Tri: quan coi việc nha môn thuộc quyền mình.

26. Hành tẩu Văn thư phòng: viên chức tập sự trong văn phòng nhà vua hay các cơ quan bộ. Nếu người đó có học vị Cử nhân (thời Nguyễn) thì gọi là Hành tẩu Cử nhân,thường là người mới vượt qua kỳ thi hương được tuyển vào làm việc.

27.Hiệu lực: quan phạm tội bị bắt đi một nơi khác và gắng làm việc để được chuộc tội, nếu nặng thì “Tiền quân hiệu lực”(ra trận tiền đánh giặc, lập công chuộc tội) nếu nhẹ hơn thì đi làm công việc sai phái khác ở bộ, hoặc ở các đồn điền,vùng biên giới; hoặc theo đường biển ra nước ngoài, gọi là “Dương trình hiệu lực”.

28. Hiệp biện Đại Học sĩ: chức quan cao cấp thứ hai trong triều dưới thời Nguyễn, sau Điện Đại học sĩ, dàng để gia hàm cho các quan đại thần có công, thường là các thượng thư thực thụ (không phải Quyền, Lãnh), trật Tòng Nhất phẩm Văn ban, cáo thụ Vinh lộc Đại phu.

29.Hộ lý Quan phòng: thời Nguyễn, ấn của Tổng đốc gọi là Quan phòng, ở đây có nghĩa là quan có hàm thấp hơn hai bậc mà  được giữ chức vụ đó, thí dụ, Bố chính được giữ chức Tổng đốc.

30.Huấn đạo: phụ trách việc giáo dục một huyện, trật Chánh Thất phẩm, Tòng Thất phẩm hoặc Chánh bát phẩm.

31.Hương cống, Tiến sĩ: từ thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), các quy chế khoa cử ổn định. Thí sinh sau qua kỳ thi sát hạch ở Trấn (từ tháng Mười năm Minh Mạng thứ 12-1831 trở đi là Tỉnh) được dự các khoa thi và các kỳ thi sau:

-Thi hương: thi ở Trấn (Tỉnh) với bốn kỳ thi gọi là bốn Trường.

-Kỳ (Trường) thứ nhất: làm bài về kinh nghĩa (giải thích nghĩa của các Kinh)

-Kỳ thứ hai: làm bài Thơ theo thể thơ Đường và bài phú (bài văn ca ngợi một cảnh đẹp thiên nhiên hay nói về một sự kiện lịch sử gắn với địa danh nào đó, như Phú Núi Chí Linh, Tây hồ phủ).

-Kỳ thứ ba: làm bài về Chiếu, Chế,  Biểu (các văn bản hành chính).

-Kỳ thứ tư: làm bài Văn sách (bài Văn theo thể đối ngẫu nói về vấn đề chính trị-xã hội mà triều đình đang quan tâm).

Thí sinh đỗ kỳ thứ ba (đỗ Tam trường) được nhận học vị Sinh đồ (từ năm Mậu Tý đời Minh Mạng-1828 đổi thành Tú tài); đỗ kỳ thi thứ tư (đỗ Tứ trường) được nhận học vị Hương cống (cũng gọi là Hương tiến, Cống sĩ, từ năm 1828 trở đi đổi làm Cử nhân).

-Thi hội: kỳ thi ở Kinh đô( Thăng Long thời Lê, Huế thời Nguyễn) cho những người đã đỗ khoa thi Hương và cũng đã trải qua bốn kỳ thi với các bài thi như  thi Hương, song đề bài khó hơn. Đỗ bốn kỳ thi Hội gọi là Trúng cách (đủ điểm đỗ để vào thi Đình).

-Thi Đình: kỳ thi ở sân rồng, hay sân điện của nhà vua, nên gọi là thi Điện hay Điện thí.Thí sinh phải làm bài Văn Sách đình đối, do vua ra đề, có khi vua trực tiếp chấm và lấy đỗ, những người đỗ được phân ra ba cấp (tức Giáp).

-Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ với ba danh hiệu: Đệ nhất danh tức Trạng nguyên (thời nguyễn không đặt), Đệ nhị danh tức Bảng nhãn và Đệ tam danh tức Thám hoa.

-Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).

-Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (gọi chung là Tiến sĩ).

Đầu thời Lê Trung Hưng (1533-1592), do nội chiến có bảy khoa thi được tổ chức tại Hành cung An Trường (nay thuộc Thanh Hoá) gọi là Chế khoa(vào các năm Giáp Dần,1554; Ất Sửu; 1565, Đinh Sửu; 1577, Canh Thìn, 1580, Quý Mùi, 1583; Kỷ Sửu, 1589; Nhâm Thìn ,1592) nhà Lê không tổ chức thi Đình, mà sau kỳ thi Hội phân những người đỗ thành các hạng: Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp Tiến sĩ.

Thời Nguyễn, từ khoa Kỷ Sửu (năm 1829), Minh Mạng cho phép lấy thêm một số người chưa đỗ trúng cách ở kỳ thi Hội, nhưng có điểm khá cao (từ 9 xuống 4 điểm) hoặc kỳ thi thứ tư bị loại nhưng cộng cả ba kỳ trước vẫn đạt 10 điểm ,ban cho học vị Phó bảng (Phụ bảng), khác với người đỗ thẳng là Chính bảng (xem thêm Bảng 1).

33.Kinh lịch: viên chức thừa hành trong cơ quan của Ty Án sát, trật Bát, Cửu phẩm.

34.Kinh lược sứ: (hay Kinh lược Đại sứ): Chế độ làm việc đặc biệt thời phong kiến. Khi một địa phương nào bị giặc giã, tao loạn, quan lại hà hiếp dân chúng, triều đình cử một đoàn thanh tra đặc biệt, gọi là Khâm sai, gồm các quan đại thần (nên gọi là Khâm sai đại thần), có uy tín có kinh nghiệm và có tinh thần trách nhiệm đến điều tra,xem xét và có toàn quyền giải quyết các vụ việc xảy ra ở địa phương rồi tâu lại với vua. Các khâm sai đại thần này cũng gọi là Kinh lược sứ.

35.Khâm phái: Quan đại thần được vua phái đến một địa phương để xem xét việc thi hành mệnh lệnh của vua.

36.Khâm sai đại thần: (Xem Kinh lược sứ)

37.Khoa đông các: khoa thi chọn những người giỏi văn bàn để dùng vào việc viết các văn bản hành chính trước khi triều đình ban hành. Khoa này không đặt học vị, nhưng người đỗ rất vinh dự, được phong chức Đông các đại Học sĩ, như là tôn vinh một nhà bác học.

38.Khoa Hoành từ: ”Hoành từ”có nghĩa là lối văn dồi dào,rộng rãi, thể hiện học lực cao sâu. Khoa Hoành từ là khoa thi dành cho cả những người đỗ và chưa đỗ Tiến sĩ dự thi, mục đích để  không bỏ sót người tài vì lý do khách quan mà không thuận đường về thi cử. Đỗ khoa hoành từ còn vinh dự hơn đỗ Tiến sĩ khoa thi thường lệ vì nhiều người đỗ tiến sĩ nhưng không qua nổi khoa Hoành từ.

39.Khoa Sĩ vọng: Khoa thi được tổ chức vào thời Lê-Trịnh, xen kẽ giữa hai kỳ thi Hội, tại sân phủ Chúa Trịnh. Khoa thi này tổ chức không chặt chẽ. Người đỗ Sĩ vọng được bổ chức Tri huyện, hoặc quan trong triều như người đỗ Hương cống.

40.Lục bộ: Ở Việt Nam, từ năm Kỷ Mão (1459), Lê Nghi Dân đặt đủ sáu bộ là:

-Bộ Lại: Chuyên trách việc bổ dụng,cất nhắc,thăng giáng và thuyên chuyển quan lại.

-Bộ Hộ: Chuyên trách việc tài chính ,lương tiền

-Bộ Lễ: Chuyên trách việc lễ ngi ngoại giao

-Bộ Binh: Chuyên trách việc tổ chức quân đội ,quân sự bảo vệ biên giới ,dân tộc thiểu số.

-Bộ Hình: Chuyên trách soạn thảo pháp luật, xử những vụ trọng án.

-Bộ Công: Chuyên trách việc giao thông, xây dựng, thổ mộc nói chung.

Đứng đầu một bộ là Thượng thư (trật Tòng nhị phẩm) dưới là Tả (Hữu) Thị lang, trật Tòng Tam phẩm.

Đầu thời Nguyễn đặt thêm chức Tả (Hữu) Tham tri ở dưới Thượng thư, trên Thị lang.

Mỗi bộ có các Ty, đứng đầu là một Lang trung (trật Chánh Tứ phẩm) và cấp phó là Viên ngoại lang (trật Chánh Ngũ phẩm).

Dưới Ty có các Phòng, đứng đầu là Chủ sự (trật Chánh Lục phẩm) và cấp phó là Tư vụ (trật Chánh Thất phẩm).

Giúp việc các ty, phòng có các viên Thư lại (thường từ 70-80 người): Chánh Bát phẩm, Chánh Cửu phẩm, (đã vào nghạch quan) và các viên Vị nhập lưu Thư lại chưa vào nghạch quan).

41.Lục khoa: Mỗi bộ của triều đình phong kiến có một cơ quan thanh tra gọi là Khoa (Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa…)mỗi khoa do một Đô Cấp sự chung (thời Nguyễn gọi là Chưởng ấn Cấp sự trung) và một Cấp sự trung phụ trách, phẩm trật của các chức này mỗi thời khác.

42.Lục tự: Ngoài Lục bộ ,triều đình phong kiến còn có Luc tự, tức sáu cơ quan giúp việc cho các công việc của triều đình và nhà vua là:

-Đại lý tự: Phụ trách việc hình luật, cùng bộ Hình xử và Ngự xử đài xử những vụ án trọng điểm.

-Thái thường tự: Trông coi việc tế lễ, hội phái quan đi tế.

- Quang lộc tự: Trông coi việc cỗ bàn, lễ phẩm trong các kỳ tế lớn, tổ chức yến tiệc…

-Hồng lộc tự: Phụ trách việc nghi lễ trong các khoa thi.

-Thượng bảo tự: giữ việc ấn triện, sắc chỉ, chương sớ của nhà vua.

-Thái bộc tự: Phụ trách việc xe ngựa cho vua, hậu phi, vương công.

Đứng đầu mỗi Tự là một Tự Khanh (trật Chánh Ngũ phẩm) và một Thiếu Khanh (Chánh Lục phẩm).

43.Nội các: Cơ quan đặt năm Minh Mạng thứ 10(1829), thay thế cho Văn thư phòng. Nội các lấy 4 quan có trật Tam,Tứ phẩm làm việc ở bộ sang nắm giữ, thuộc viên có 28 người từ các quan ở Hàn lâm viện là Thị độc, Thừa chỉ, Tu soạn, Biên tu, Kiểm thảo, Đãi chiếu. Chức trách của Nội các giữ ấn, theo vua xa giá đi làm lễ Tế Nam Giao và tuần du, truyền và lưu chỉ dụ cho các nha môn, ghi chép chương sớ, kiểm duyệt cống vật…Nội các chia làm 4 Tào,có ấn quan phòng ”Sung biện Nội các sự vụ”.Vai trò của Nội các giảm dần từ thời Thiệu Trị (1841-1847).

44.Nội mật viện: Cơ quan giữ việc quân cơ mật, giống như Khu mật viện thời Trần. Đầu thời Lê Sơ, Nội mật viện gồm 3 sảnh (Trung Thư sảnh, Môn Hạ sảnh,Hoàng Môn sảnh)và 2 bộ (Lại ,Lễ) có Tả,Hữu tướng quốc Bình Chương quân quốc trọng sự chia nhau giữ việc nước, đứng đầu là Tri viện sự ,dưới là các Thiêm tri viện sự, Đồng tri viện sự,Chánh chưởng.

45.Phiên: Năm Vĩnh Thịnh thứ 14(1718), Trịnh Cương lập ra sáu phiên (Lại phiên, Hộ phiên, Lê phiên, Binh phiên, Hình phiên, Công phiên) ở Phủ chúa tương đương như 1 bộ của Vua Lê. Đứng đầu là Tri phiên, Phó(hoặc Đồng) Tri phiên, bổ dụng như quan Thượng thư sáu bộ và Ngự sử đài, Thị lang các bộ.

46.Phủ doãn: Quan đứng đầu việc hành chính ở Kinh đô. Thời Lê, Kinh đô Thăng Long gọi là phủ Phụng Thiên, có chức Phủ doãn Phụng Thiên (là Văn quan) đứng đầu, trật Chánh Ngũ phẩm, cấp phó là Thiếu doãn, trật Chánh Lục phẩm.Thời nguyễn, Kinh đô đóng ở Huế, gọi là phủ Thừa Thiên (gồm phủ Thừa Thiên và Kinh thành Huế), chức Phủ doãn là Văn quan,có trật Chánh Tam phẩm, cấp phó là Phủ thừa.

47.Phủ liêu: Như cơ quan chính phủ thời Lê-Trịnh (1599-1787), do chúa Trịnh điều khiển, gồm các quan đại thần tham dự.

48.Quốc sử quán: Cơ quan biên soạn quốc sử, có một đại thần do vua sai cử ra trông nom. Khi soạn quốc sử có một Tổng tài phụ trách chung, do một đại thần kiêm nhiệm, thường chọn trong số các Đại Học sĩ, Thượng thư, Thị lang; bên dưới có Đề điệu làm sự vụ trưởng quan, các chức Toản tu, Hiệu dối, Biên tu giúp việc.

49.Quốc Tử Giám: Nơi giảng dạy cho con em vua quan và học trò giỏi trong cả nước (lập năm Bính Thìn 1076), có chức Tế tửu đứng đầu (trật Tòng Tứ phẩm) và Tư nghiệp, Bác sĩ (trật Tòng Ngũ phẩm).

50.Tá lý: Nguyên thể là chức quan đứng hàng thứ 4 trong 6 bộ, trật Chánh Tam phẩm, song ở đây có nghĩa là vinh hàm ban cho các quan đại thần có công.

51.Tiềm để: nơi ở của Hoàng thái tử trước khi lên ngôi.

52.Tổng đốc: Vào tháng 10, năm Tân Mão (11-1831),Vua Minh Mạng bỏ cấp Trấn, lập cấp Tỉnh, chia đặt lại quan chức (ở miền Nam tiến hành muộn sau một năm).

+Tổng đốc: Quan đứng đầu một tỉnh lớn (như Hà Nội,Hải Dượng…) kiêm nhiệm cai quản một tỉnh nhỏ kề cận như Tổng đốc Hà-Ninh (Hà Nội-Ninh Bình), Tổng đốc Hải-An (Hải Dương-Quảng Yên), có hàm Thượng thư bộ Binh, trật Chánh Nhị phẩm coi giữ, như là đại diện của triều đình tại tỉnh đó.

+Tuần phủ: Văn quan, đứng đầu tỉnh nhỏ, ví như tỉnh Quảng Yên, Ninh Bình, trật Tòng Nhị phẩm, phải phục tùng Tổng đốc.

Mỗi tỉnh (cả tỉnh lớn,tỉnh nhỏ) còn có các chức danh:

+Bố chính: Văn quan, trông coi việc binh lương, thuế khoá, trật Chánh Tam phẩm.

+Án sát: Văn quan, coi việc hình án, tư pháp, thanh tra, trật Tòng Tam phẩm.

+Đề đốc: Võ quan, phụ trách việc quân sự một tỉnh lớn, trật Tòng Nhị phẩm (tỉnh nhỏ là Lãnh binh). Cả hai chức này đều có chức phó.

+Đốc học: Văn quan, phụ trách việc giáo dục, trật Chánh Ngũ phẩm.

53.Tú tài ấm sinh xuất thân: Những người có học vị Tú tài, là con các quan văn ( thời Nguyễn).

54.Tư: Một bậc của phẩm trật quan lại (gồm 24 tư). Quan lại mỗi khi có công hay mắc lỗi thì được thưởng hay phạt từ 1 đến 24 tư, căn cứ vào đó mà thăng hay giáng trật, có khi thăng, giáng chức.

55.Tư đồ,Tư mã,Tư không(Tam Tư): Hàm quan đặt từ thời Trần để gia thêm các tôn thất, đại thần có công. Về sau thường thêm các chữ ” Đại” cho có uy và 2 chữ “Nhập nội” có nghĩa là có quyền được ra vào cung cấm”.Thời Lê Thánh Tông bỏ Tam Tư.

56.Tước: Ngoài phẩm trật và chức, tuỳ theo công trạng, quan lại thời phong kiến còn được phong tước, gồm năm hạng: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, ngoài ngũ tước trên đây, các triều đại từ Ngô-Đinh-Tiền Lê trở về sau còn đặt tước Vương đứng trên tước Công (như Đông Chinh Vương, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn…), chủ yếu phong cho người trong hoàng tộc.Tuỳ từng giai đoạn lịch sử và điều kiện riêng mà đứng trước tước của mỗi người có thêm một “biệt hiệu khác theo quê quán, hoặc theo tính tình, tài năng…”

57.Thái phó: Một trong ”Tam thái “ (Thái sư,Thái phó,Thái bảo)-ba viên quan văn (hoặc võ) có trật cao nhất trong triều (Chánh Nhất phẩm). Ngoài Tam Thái ”còn có “Tam thiếu” (Thiếu sư,Thiếu phó,Thiếu bảo), trật Chánh Nhị phẩm.

58.Thái tể: Vinh hàm dùng để phong cho các quan hàng Tể tướng hoặc bậc Tam Thái.

59.Thái tử Thái Sư: Quan chức từ thời Hồng Đức (1470-1497) trở đi quy định ba viên quan văn có trật Tòng Nhất phẩm gọi là Thái tử Thái sư, Thái tử Thái phó, Thái tử Thái bảo.

60.Tham biện: Chức quan cấp phó cho các trưởng quan ở các bộ hay ở trấn (tỉnh), lo một việc chuyên môn nhất định, ví như Tham biện tỉnh vụ. Có khi gọi là Biện lý.

61.Tham hiệp: Cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, mỗi Trấn có một Trấn thủ đứng đầu cùng một Hiệp trấn (phụ trách việc binh lương thuế khoá ) và một Tham hiệp (phụ trách việc quân sự, hình luật). Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), lập cấp Tỉnh thay Trấn, chức Trấn thủ được thay bằng chức Tổng đốc (với các tỉnh nhỏ là Tuần phủ). Tổng đốc các tỉnh lớn thường kiêm việc hành chính của một tỉnh hỏ kề cận. Các chức Hiệp trấn , Tham hiệp được thay thế     bằng Bố chính, Án sát.

62.Tham tán: Viên văn quan có trật Tòng Tam phẩm bổ sung vào các quân, nhằm tăng cường chỉ huy quân sự ở các đơn vị này, đặt từ thời vua Gia Long (1802-1820).

63.Tham tụngBồi tụng: Năm Kỷ Hợi, niên hiệu Quang Hưng(1599), Trịnh Tùng tự xưng là Đô Nguyên soái, Tổng đốc chính, Thượng phụ Bình An Vương, buộc vua Lê phải trao cho mình chén Ngọc toản, cờ Tiết maobúa Hoàng Việt là 3 thứ tượng trưng cho đặc quyền của nhà vua. Ngôi chúa được cha truyền con nối. Từ đây, trong nước vừa có vua, vừa có chúa, trong đó, chúa Trịnh nắm thực quuyền. Vua Lê chỉ là bù nhìn. Sử cũ gọi thời kì này (1599-1786) là thời kì Lê-Trịnh. Năm đầu tiên niên hiệu Hoằng Định (1600), đặt chức quan làm việc trong phủ chúa Trịnh , để bàn việc chính sự , đứng đầu là Tham tụng được coi như Tể tướng, thường lấy Thượng thư nắm giữ. Bồi tụng coi như Phó Tể tướng , thường lấy Thị lang làm.

64.Thiếu bảo: Một trong “Tam thiếu” (Thiếu sư,Thiếu phó,Thiếu bảo). Theo quan chế thời Hồng Đức, Tam thiếu nếu là quan Văn thì có trật Chánh Nhị phẩm, nếu quan Võ thì trật Tòng Nhất phẩm. Thiếu bảo có Tả bật và Hữu bật, có quyền hành lớn trong triều.

65.Thiêm sự: ”Thiêm” nghĩa là “thêm”. Thiêm sự là quan phụ giúp Trưởng quan ở các nha môn trong việc nghiên cứu , xem xét các công việc của cấp dưới , nắm tình hình chung; tuỳ theo chức quan mà gọi theo (ví dụ Đô đốc Thiêm sự).

66.Thừa tuyên sứ: Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Lê Thánh Tông chia nước làm 12 đơn vị Thừa tuyên (thay Đạo đầu thời Lê), đến năm 1471, đặt thêm Thừa tuyên Quảng Nam, mỗi Thừa tuyên có 3 viên quan phụ trách 3 Ty có tư cách ngang  nhau:

-Thừa ty (Thừa chính sứ ty): Chuyên trách việc hành chính , hộ tịch, tài chính, đứng đầu là Thừa chính sứ, trật Tòng tam phẩm , Thừa chính Phó sứ (Tòng Tam phẩm), Tham chính (Tòng tứ phẩm) và Tham nghị (Tòng Ngũ phẩm).

-Hiến ty (Hiến sátsứ ty): Chuyên trách các sự việc trong dân , giám sát quan lại và việc hình án , có các chức quan: Hiến sát sứ (Thanh hình hiến sát sứ ty,cho Thừa tuyên Quảng Nam), trật Chánh Lục phẩm, Hiến sát phó sứ (Chánh Thất phẩm).

-Đô ty: Chuyên trách việc quân sự , có chức Đô Tổng binh, trật Chánh Tam phẩm và Tổng binh Thiêm sự (Chánh Tứ phẩm) và Tổng binh Đồng tri (Tòng Tứ phẩm), do quan võ nắm.

67.Trảm quyết: Bị tội chém và thi hành án ngay, khác với Trảm giam hậu là bị tội chém nhưng được giam lại, đợi đến kì thu thẩm (xét lại các án vào mùa thu hằng năm), có thể được giảm án hay vẫn y án. Cũng như vậy, đối với hình phạt giảo (thắt cổ cho chết) có Giảo quyếtGiảo giam hậu.

68.Trật: Quan chế thời phong kiến quy định hằng năm quan lại được chia thành chín bậc, gọi là Cửu Phẩm, mỗi phẩm lại chia làm ChánhTòng gọi là Trật. Như vậy có 18 trật , cao nhất là Chánh nhất phẩm, thấp nhất là Tòng Cửu phẩm. Phẩm trật của mỗi quan lại là căn cứ chính để trả lương.

69.Tri huyện: Quan đứng đầu một huyện thời Lê, Nguyễn, trật Tòng Thất phẩm. Người Phó gọi là Huyện thừa. Từ đầu thời Lê Thánh Tông (1460-1497) trở về trước, chức Tri huyện gọi là Chuyển vận sứ hoặc Chủ bạ.

70.Tri Kinh Diên: Kinh Diên nơi nhà vua đọc sách , nơi giảng sách cho các Hoàng tử , có đặt chức Kinh Diên giảng quan .Tri là người đứng đầu .Về sau, Tri Kinh diên được hiểu như một vinh hàm cho quan lại có công , có quyền chức, được ra vào cung vua.

71.Tri phủ: Quan đứng đầu một phủ-đơn vị hành chính dưới cấp Trấn thời Lê (Tỉnh thời Nguyễn), trên cấp huyện, tồn tại đến cách mạng Tháng Tám 1945, gồm nhiều huyện, trật Tòng Lục phẩm .Cấp phó là Đồng Tri phủ.

72.Viện Đô sát: Như Đô Ngự sử thời Lê, đặt từ năm Minh Mạng thứ 13(1832).Viện Đô sát cùng bộ Hình và Đại lý tự hợp thành Ty Tam pháp chuyên sử những vụ án quan trọng.

73.Quan chế các thời đại phong kiến:

Dưới đây là tổng quan hệ thống quan chế của các triều đại phong kiến Việt Nam. Do số lượng cũng như tên gọi của các chức quan có khác biệt ở mỗi triều đại, chỉ xin nêu ra những chức vị phổ biến (xuất hiện với cùng tên gọi và nhiệm vụ ở nhiều thời). Do có sự tương đồng cao độ giữa chế độ triều chính Trung Hoa và Việt Nam trong thời gian này nên cũng có thể tham khảo những thông tin dưới đây để có một góc nhìn tổng quát sơ lược về hệ thống quan lại các triều đình phong kiến Trung Hoa, cái gốc và hình mẫu mà hệ thống của Việt Nam đã mô phỏng theo.

QUAN CHẾ

VĂN GIAI

1. Chánh nhất phẩm.

- Tam công (tam thái): Thái sư, Thái phó, Thái bảo.

2. Tòng nhất phẩm.

- Thái tử thái sư, Thái tử thái phó, Thái tử thái bảo.

3. Chánh nhị phẩm.

- Tam thiếu: Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo.

4. Tòng nhị phẩm.

- Lục bộ thượng thư: Lại bộ, Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Công bộ, Hình bộ.

- Thái tử thiếu sư, Thái tử thiếu phó, Thái tử thiếu bảo.

5. Chánh tam phẩm.

- Đô ngự sử;- Tôn nhân phủ tôn nhân lệnh;- Lăng chánh;- Tả & hữu thứ tử;- Tổng thái giám.

6. Tòng tam phẩm.

- Lục bộ tả & hữu thị lang;- Thiên đô;- Lăng phó;- Tôn nhân phủ tả & hữu tôn chính;- Tả & hữu dụ đức;- Thừa chính sứ;- Đô thái giám

7. Chánh tứ phẩm.

- Hàn lâm viện thừa chỉ;- Phó đô ngự sử;- Lăng thừa;- Tả & hữu trung doãn;- Tả & hữu xuân phường;- Thái giám.

8. Tòng tứ phẩm.

- Đông các đại học sĩ;- Quốc tử giám tế tửu;- Thông chính sứ;- Tham chính;- Tả & hữu tán thiện.

9. Chánh ngũ phẩm.

- Hàn lâm viện thị độc;- Thiêm đô ngự sử;- Lục tự khanh: Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự, Thường bảo tự;- Thiêm sự;- Thái y viện đại sứ;- Phụng thiên phủ doãn.

10. Tòng ngũ phẩm.

- Hàn lâm viện thị giảng;- Đông các đại học sĩ;- Quốc tử giám tư nghiệp;- Thái y viện sứ;- Tả & hữu thuyết thư tham nghị.

11. Chánh lục phẩm.

- Hàn lâm viện thị thư;- Đông các hiệu thư;- Trung thư giám xá nhân;- Thái y viện ngự y chánh;- Tư thiên giám;- Tư thiên lệnh;- Hiến sát cứ;- Lục bộ lang trung;- Lục tự thiếu khanh;- Phụng thiên thiếu doãn;- Đoán sự các vệ;- Ngũ phủ kinh lịch.

12. Tòng lục phẩm.

- Hàn lâm viện đãi chế;- Trung thư giám;- Thái y viện y phó;- Bí thư giám điển thư;- Vương phủ tả & hữu tư giảng;- Thông chính ti thông thừa;- Lục bộ viên ngoại lang;- Tri phủ.

13. Chánh thất phẩm.

- Hàn lâm viện hiệu lý;- Cáp môn đãi chiếu;- Đề hình giám sát ngự sử;- Thập hữu tam đạo giám sát ngự sử;- Trung thư giám chính tự;- Lục khoa đô cấp sự trung: Trung thứ khoa, Hải khoa, Đông khoa, Tây khoa, Nam khoa, Bắc Khoa (có đời đổi thành Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình khoa, Công khoa);- Lục tự thừa;- Thái y viện biện nghiệm;- Tư thiên giám giám phó;- Phụng thiên huyện uý;- Hiến sát phó sứ;- Vương phủ trưởng sử.

14. Tòng thất phẩm.

- Hàn lâm viện kiểm khảo;- Tư kinh cục điển hàn;- Điện tiền ti điền ngục sở tù ngục;- Thông phán;- Bí thư giám điển hàn;- Tri huyện;- Tri châu.

15. Chánh bát phẩm.

- Tư huấn nho lâm quán;- Tư huấn tú lâm cục;- Lục khoa cấp sự trung;- Hàn lâm viện tu soạn;- Quốc tử giám giáo thụ;- Sử quán tu soạn;- Tư thiên giám giám thừ;- Giáo phương ti chánh;- Bào chánh;- Man di phụ đạo ti phụ đạo chánh;- Điện tiền ti điền ngục sở điền ngục;- Thự chánh;- Cục chánh (Giám tuyên đạt, Thượng y, Ngự dụng).

16. Tòng bát phẩm.

- Lục bộ tư vụ;- Sử quán biên lục;- Ngự sử đài chiếu khám điền nghĩa;- Cáp môn ti sứ;- Ngũ kinh học chính;- Giám bạ;- Đại lý tự bình sự;- Khố sự thông sự chánh;- Tư thiên giám ngũ quan chánh;- Tế sinh đường sứ;- Phụng thiên phủ trị bình;- Thông sự ti điền sự;- Thiên sự viện điền sứ;- Bạn độc các phủ;- Phủ uý;- Vệ uý;- Lương y chánh;- Đô sự;- Kinh lịch;- Điển bạ;- Tri bạ;- Đô quan;- Chủ sự;- Thôi quan;- Huyện thừa;- Đồng tri châu;- Thừa dụ cục cục phó;- Ngũ hình ngục sở tù ngục;- Phụ đạo ty phó;- Giáo phường ty phó;- Bào phó;- Lương uẩn ti tư lễ;- Ứng sự cục chánh;- Điền sở;- Tàm tang sở sở sứ;- Tinh mễ ti sứ;- Tuyên đạt cục phó;- Thượng y cục;- Tượng phó;- Điền cửu ti chánh;- Chưởng liễn cục chánh- Điền tàng cục chánh;- Lục sự.

17. Chánh cửu phẩm.

- Khố phó sứ;- Đề khống;- Tôn nhân phủ kiểm hiệu;- Hồng lô tự ban;- Thông sự phó;- Tế sinh đường khán chẩn;- Sinh dược khố sứ;- Tư thiên giám tư thần lang;- Huấn đạo;- Thiện y sở thiện y chánh;- Giám hộ;- Giảng dụ;- Khổng mục;- Lương y phó;- Cáp môn phó sứ;- Lang Lam Sơn tri sự;- Ngũ hình tư ngục sở ngục thừa;- Ngự sử đài án ngục sở ngục thừa;- Điền thiện sở điền thiện;- Thủ ngục sở ngục thừa;- Lương uẩn cục phó;- Đồn điền sở;- Tàm tang sớ phó sứ;- Chúng trà sở sở sứ;- Bách lý tả & hữu sở sở sứ;- Tăng lục ti tăng thống;- Đạo lục ti đạo thống;- Điền mục sở sở sứ;- Man di trưởng quan ti trưởng quan;- Chưởng liễn cục;- Điền tàng cục;- Trân tu cục cục phó.

18. Tòng cửu phẩm.

- Điền mục sở phó sứ;- Thị mãi ti ti sứ;- Các thuế sứ;- Độ trưởng;- Độ tư (bến đò);- Thị trưởng (các chợ);- Thị bình (các chợ);- Huyền nghĩa hội môn quán;- Thự phó;- Dịch thừa;- Phố chánh;- Bách hí tả & hữu phó sứ;- Xiển giáo;- Tăng lục ti giác nghĩa;- Đạo lục ti diễn pháp;- Các đàn sứ;- Các từ thừa;- y học huấn khoa;- Phủ khuyến nông sứ;- Phủ hà đê sứ;- Âm dương huấn thuật;- Tự chính (chùa);- Tăng đạo chánh;- Quán sứ;- Man di trưởng quan;- Ti phó trưởng quan;- Tăng đạo phó chánh.

VÕ GIAI.

1. Chánh nhất phẩm.

- Thái sư, Thái uý, Thái phó, Thái bảo.

2. Tòng nhất phẩm.

- Thiếu sư , thiếu phó, thiếu bảo.

- Tả & hữu đô đốc.

3. Chánh nhị phẩm.

- Thiếu uý;- Đô kiểm điểm;- Đô hiệu kiểm;- Đề đốc;- Đô đốc đồng tri;- Đề lãnh.

4. Tòng nhị phẩm.

- Đô đốc thiêm sự;- Tả & hữu kiểm điểm;- Tả & hữu hiệu kiểm;- Tham đốc;- Phó đề lãnh.

5. Chánh tam phẩm.

- Đô chỉ huy sứ;- Đô tổng binh sứ;- Tuyên uý đại sứ;- Tổng thái giám.

6. Tòng tam phẩm.

- Đô chỉ huy đồng tri;- Tổng tri chỉ huy sứ;- Tổng binh đồng tri;- Tuyên uý sứ;- Đô thái giám.

7. Chánh tứ phẩm.

- Đô chỉ huy thiêm sự;- Chỉ huy sứ;- Tổng binh thiêm sự;- Tuyên uý đồng tri;- Thái giám.

8. Tòng tứ phẩm.

- Chỉ huy sứ đồng tri;- Tổng binh đồng tri;- Đô tổng tri;- Thiêm tổng tri;- Tuyên uý thiêm sự;- Thiêm thái giám.

9. Chánh ngũ phẩm.

- Lực sĩ hiệu uý;- Tổng lĩnh;- Quản lĩnh;- Thiên hộ;- Chỉ huy thiêm sự;- Trấn điện tướng quân;- Phó tổng tri;- Thống chế;- Chánh đô uý;- Thiên hoà cung cung chính;- Quân dân chiêu thảo sứ;- Đồng tri giám sự.

10. Tòng ngũ phẩm.

- Phó thiên hộ;- Trung uý;- Phó quản lĩnh;- Trung thành binh mã lang tướng ty lang tướng;- thiên hoà cung cung phó;- Chiêu thảo đồng tri;- Tả & hữu thiếu giám.

11. Chánh lục phẩm.

- Phó trung uý;- Chánh võ uý;- Bách hộ;- Chánh đề hạt;- Trung thành binh mã lang tướng ti phó tướng;- Thiên hoà cung cung thừa;- Chiêu bảo thiêm sự;- Kinh lược sứ tả & hữu thừa.

12. Tòng lục phẩm.

- Đề hạt;- Nha vệ điện hiệu uý;- Kinh lược đồng tri;- Phòng ngự sứ;- Tả & hữu đề điểm;- Tả, hữu, tiền & hậu phó lang tướng;- Thiên hoà cung chánh chưởng;- Công bộ lục sở sở sứ;- Thái quan thự thái quan chính;- Tả & hữu đề điểm;- Võ uý.

13. Chánh thất phẩm.

- Phó võ uý;- Phó đề hạt;- Tư binh cục;- Tây mã sở;- Kinh lược thiêm sự;- Phòng ngự đồng tri;- Thiên hoà cung phó chưởng.

14. Tòng thất phẩm.

- Vệ uý.

15. Chánh bát phẩm.

- Phó vệ uý.

16. Tòng bát phẩm.

- Phủ uý.

THƠ QUÊ HƯƠNG LÀNG TẢ THANH OAI

Nhằm động viên, khuyến học.

Quê ta làng Tả Thanh Oai,

Đường làng, sông Nhuệ chạy dài ven bên.

Đình làng: Hoa Xá, là tên.

Thờ: bà Chúa Hến, (vua bên) Lê Hoàn.

Nghìn năm đất nước khải hoàn,

Ở làng các Họ hân hoan đón chào.*

Dân làng ta rất tự hào,

Mười hai Tiến sĩ ở vào quê ta.

Xứng “làng khoa bảng” nước nhà,

Họ Ngô, họ Nguyễn thật là hiển vinh.

Tưởng, Lưu hai họ cùng vinh,

“Quận công”, tiên Tổ hiển vinh họ mình.

Đất làng ta rất hiển linh,

Văn quan, võ tướng cổng Đình đã ghi.  **

Miệt mài Hậu Duệ học thi,

Báo ơn Tiên Tổ, tên ghi bảng vàng.

Về xây quê thật trang hoàng,

Để làng ta được đàng hoàng hơn xưa.

Nhớ quê cái thủa xa xưa,

Dưới thời Pháp thuộc dân thưa, tiêu điều.

Bây giờ đã đổi thay nhiều,

Điện-đường-trường-trạm, bao nhiêu công trình.

Nhìn vào trong mỗi gia đình,

Ăn no mặc ấm, văn minh đàng hoàng.

Đêm về ánh điện sáng choang.

Sớm chiều loa phát âm vang xã làng.

Ra đồng cảnh rực mầu vàng,

Mênh mông thảm lúa, rộn ràng mẩy bông.

Trẻ em má phính môi hồng,

Máy cầy, máy gặt ngoài đồng cả lô.

Đường làng xe máy ô tô,

Ríu ran gọi bạn, hẹn hò vui chơi.

Quê ta cảnh sắc tuyệt vời,

Ấm no hạnh phúc gấp mười ngày xưa.

Trời còn khi nắng, khi mưa,

Nghe theo các Cụ sớm, trưa ở làng.

Thăng Long – Hà Nội huy hoàng,

Thủ đô nghìn tuổi ngày càng vươn xa.

Và rồi đô thị rộng ra,

Làng ta cũng sẽ thành ra nội thành.

Cháu con hãy gắng học hành,

Theo gương  Đảng, Bác thành danh, thành tài.  ***

Dựng xây Tổ quốc nay mai,

Cách này có một không hai trên đời.

Làm lên sự nghiệp đúng thời,

Đó là sách lược muôn đời vinh quang.

 

* Ở làng có 28 họ trước năm 1945 và hơn 20 họ mới đến định cư.

**  Ở cổng Đình có đôi câu đối: nói về thế đất khoa bảng và “địa linh nhân kiệt” của làng.

Chu lĩnh đối tam thai, địa xuất hầu vương bằng hiện tướng,

Ánh sơn triều bát đẩu, thiên chung khoa giáp lại âm phù.

Dịch:

(Núi Chu sánh với tam thai, đất nổi vương hầu và tướng giỏi,

Non Ảnh chầu bát đẩu, trời sinh khoa giáp cậy giúp ngầm).

***  Đảng: Đảng Cộng Sản Việt Nam;  Bác: Chủ tịch Hồ Chí Minh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Tư liệu, Gia phả 28 dòng họ ở làng Tả Thanh Oai.

2- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. (nhà xuất bản khoa học xã hội. Hà nội – 1973).

3- Các làng khoa bảng Thăng Long-Hà Nội. (nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội – 2010). Làng Tả Thanh Oai.

4- Tông phả kỷ yếu tân biên. (nhà xuất bản văn hóa dân tộc – 2006).

5- GIÁO DỤC LÝ LUẬN. (HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH – Số 8 – 2009). Tưởng Dân Bảo – một chiến sĩ cách mạng kiên trung, trang 37.

6- TIẾN SĨ NHO HỌC THĂNG LONG HÀ NỘI. Nhà xuất bản Thanh niên (Bùi Xuân Đính biên soạn).

7- HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ. Ngô gia văn phái.( 2 tập).

8- LỊCH SỬ cách mạng Đảng bộ và nhân dân xã Tả Thanh Oai (1930-2000).

9- VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ VIỆT NAM (Viện khoa học xã hội Việt Nam).

10- QUÊ HƯƠNG TÔI. kỳ văn –Ngô Vi Kha (tác giả). 80 tuổi (6/1/1996).

11- TÓM TẮT NIÊN BIỂU LỊCH SỬ VIỆT NAM. Nhà xuất bản văn hóa-thông tin.

12- VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM VÀ 82 BIA TIẾN SĨ. Trung tâm hoạt động văn hoá khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám.  (Ngô Đức Thọ chủ biên – Hà Nội 2007)

13- TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT ĐÌNH HOA XÁ, XÃ TẢ THANH OAI – THANH TRÌ – HÀ NỘI. Luận án tốt nghiệp chuyên ngành quản lý văn hoá của Nguyễn Xuân Mai.

14 -BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ Wikipedia.

3. MỤC LỤC

LÀNG KHOA BẢNG TẢ THANH OAI .

NỘI DUNG                                                                                     TRANG

TẬP I từ trang 1 đến trang 14.

 

LỜI GIỚI THIỆU                                                                                 1

Chương I                                                                                          3

TẢ THANH OAI, MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÀNG VEN ĐÔ.                                3

I.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, TÊN LÀNG.                                                                3

1. ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG              3

2 -THUỶ TỔ CÁC TỘC HỌ Ở TẢ THANH OAI.                                         7

3 - CÁC QUẬN CÔNG NGƯỜI LÀNG TẢ THANH OAI                                  8

4 - CÁC NGÔI THỨ TRONG VIỆC LÀNG                                                   9

5 -HỘI TƯ VĂN CỦA LÀNG                                                                   9

6 -NGÔ GIA VĂN PHÁI                                                                        10

II. CƠ SỞ KINH TẾ                                                                             10

III. TỔ CHỨC XÃ HỘI                                                                          11

1 - CƠ CẤU TỔ CHỨC LÀNG                                                                 11

2 - LỆ LÀNG                                                                                      13

TẬP II từ trang 14 đến trang 33.

 

IV -CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ                                                       15

1 -ĐÌNH HOA XÁ , MINH NGỰ LÂU.                                                        15

2 -ĐÌNH TỔ THỊ                                                                                  17

3 - KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH CHỐNG HẠN                              17

4 -KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NHÀ THỜ NGÔ THÌ NHẬM                                  18

5 -DI TÍCH LỊCH SỬ NHÀ THỜ HỌ NGUYỄN KHAI KHOA                            20

6 -NGHĨA TRANG LIỆT SĨ XÃ TẢ THANH OAI                                           24

7 -CHÙA TỔ THỊ                                                                                  27

8 -CHÙA BÙI: (Bùi Linh tự).                                                                   27

9 -CHÙA PHE: (Tiên Linh tự).                                                                 27

10 -CHÙA THẮM: (Linh Am tự).                                                              28

11 -ĐỀN Chúa Bà: (Giao Trì Linh từ).                                                        28

12 -MIẾU ÔNG                                                                                      28

13 - VĂN CHỈ CỦA LÀNG.                                                                       28

14 -ĐÀN THIÊN NÔNG                                                                           28

V CÁC LỄ THỨC THỜ CÚNG, LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC                                  29

  1. TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI                                                              29

- LỄ HỘI LÀNG TẢ THANH OAI TRƯỚC NĂM 1945.                                     29

2. PHONG TỤC                                                                                      30

-LỆ XÔNG ĐẤT ĐẦU NĂM Ở LÀNG TẢ THANH OAI                                      30

-VIỆC HỌ                                                                                              31

-CƯỚI XIN                                                                                             32

-MA CHAY                                                                                             33

TẬP III từ trang 33 đến trang 51.

 

Chương II                                                                                             33

TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG LÀNG TẢ THANH OAI.                                   33

  1. NHỮNG ĐẠI, TRUNG KHOA THỜI NHO HỌC                                      33

1 -MƯỜI HAI TIẾN SĨ ĐỖ ĐẠI KHOA CỦA LÀNG                                           33

2 -CÁC VỊ ĐỖ TRUNG KHOA  CỦA LÀNG                                                     47

II. NGUYÊN NHÂN TRUYỀN THỐNG HỌC HÀNH THÀNH ĐẠT

CỦA NGƯỜI LÀNG TẢ THANH OAI.                                                            48

TẬP IV từ trang 51 đến trang 67.

 

Chương III                                                                                              51

TIẾP NỐI TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC VÀ

KHOA BẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI.                                                          51

  1. TỪ TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG ĐẾN

TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG.                                                                   51

  1. PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC CỦA CHA ÔNG.                       63

1 -GIÁO SƯ, TIẾN SĨ, THẠC SĨ, CỬ NHÂN LÀNG GỒM 384 VỊ.                        63

2 -SĨ QUAN LÀNG TẢ THANH OAI SAU NĂM 1945 có 44 vị                            66

TẬP V từ trang 67 đến trang 88.

TẬP VI từ trang 88 đến trang 109.

3 -KHOA BẢNG, VĂN QUAN, VÕ TƯỚNG, SĨ QUAN,

VĂN BIA HIỆN CÓ TRONG CÁC HỌ Ở LÀNG.                                                 67

TẬP VII từ trang 109 đến trang 127.

KẾT LUẬN                                                                                             109

1 – CÁC ĐIỀU KIỆN TẠO NÊN TRUYỀN THỐNG KHOA CỬ                             109

2 -MỘT SỐ TỪ, THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN HỌC VỊ,

CHỨC QUAN CỦA CÁC VỊ KHOA BẢNG                                                       111

3 -MỤC LỤC                                                                                           124


Biên soạn: Bác sĩ: Tưởng Văn Hoà.

Ngày: 16 - 9 - 2011