Chào mừng bạn đến với website họ Tưởng

PHIM QUA SỰ KIỆN

You must have Flash Player installed in order to see this player.

LIÊN KẾT WEBSITE

LỜI HAY Ý ĐẸP

- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.
Xem tiếp
THÔNG TIN HỌ TƯỞNG SỐ 1 NĂM 2004
Thứ ba, 21 Tháng 2 2012 06:02


THÔNG TIN HỌ TƯỞNG SỐ 1 NĂM 2004


CLB UNESCO THÔNG TIN CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM

BAN  LIÊN LẠC HỌ TƯỞNG

œ&

THÔNG TIN HỌ TƯỞNG

SỐ 1 XUÂN GIÁP THÂN

­

LƯU HÀNH NỘI BỘ





CHÚC MNG NĂM MỚI

XUÂN GIÁP THÂN

2004


MỤC LỤC

Lời mở đầu.

Văn bia Tưởng Đại Tộc.

Dòng tộc họ Tưởng ở xã Tả Thanh Oai – Thanh Trì – Hà Nội.

Dòng tộc họ Tưởng ở thôn Văn Nội – xã Phú Lương – Thanh Oai – Hà Tây.

Dòng tộc họ Tưởng ở thôn Phúc Kiều – xã Quảng Tùng – Quảng Trạch – Quảng Bình.

Dòng tộc họ Tưởng ở thị xã Tam Kỳ – Quảng Nam.

Dòng tộc họ Tưởng ở thôn Quỳnh Cung – Thanh Trì – Hà Nội.

Dòng tộc họ Tưởng ở tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

Đôi lời ghi nhận về dòng họ Tưởng ở Việt Nam.

Thân thế và đời hoạt động cách mạng của ông Tưởng Dân Bảo.

Danh sách ban liên lạc của dòng tộc họ Tưởng tại các địa phương.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu xuân Giáp Thân năm (2004) ban liên lạc gia tộc họ Tưởng xin trân trọng gửi tới các cụ, các ông bà, dâu, rể, các con cháu của toàn gia tộc lời chúc mừng năm mới “dồi dào sức khẻo, hạnh phúc trong cuộc sống, thành đạt trong học tập và sự nghiệp”.

Ban liên lạc gia tộc họ Tưởng xin trân trọng thông báo kể từ lễ giỗ tổ kỷ niệm 663 năm (2004) bản “thông tin gia tộc họ Tưởng” lưu hành nội bộ ra số đầu tiên; nhằm tập hợp những thông tin về nguồn gốc đời sống, tình cảm, công đức, sự nghiệp…của tất cả các thành viên trong đại gia tộc đã và đang sinh sống ở mọi miền đất nước kể cả ở nước ngoài với mục đích:

  1. Tăng cường sự hiểu biết và liên hệ giữa mọi thành viên trong gia tộc, giúp mọi người và gia đình tìm về cội nguồn họ tộc.
  2. Giáo dục nhắc nhở các thế hệ hiện tại và tương lai luôn tưởng nhớ đến công đức của tổ tiên, ra sức học tập , lao động tu dưỡng, phấn đấu phát huy những truyền thống tốt đẹp và thực hiện những di huấn thiêng liêng của các bậc tiền bối làm cho dòng họ ngày càng phát triển với kỳ vọng “ con hơn cha là nhà có phúc”.
  3. Trên cơ sở những thông tin tài liệu, hiện vật tập hợp được sẽ cung cấp cho các chi tộc bổ sung, biên soạn, hoàn chỉnh gia phả của chi họ mình; tiến tới biên soạn đầy đủ tộc phả của đại gia tộc họ Tưởng trên đất nước Việt Nam.
  4. Làm cơ sở cho ban liên lạc họ Tưởng sinh hoạt và làm việc thường kỳ với “câu lạc bộ UNESCO thông tin về các dòng họ Việt Nam”.
  5. Thường xuyên tôn vinh và biểu dương những gương người tốt việc tốt có ý chí vươn lên trong học tập, ham học hỏi, rèn luyện tay nghề chuyên môn, vượt khó vươn lên trong mọi hoạt động kinh doanh, sản xuất, tham gia xây dựng chính quyền các cấp từ địa phương đến cấp tỉnh, thành phố, hoặc cao hơn nữa của các thành viên dòng họ Tưởng ở Việt Nam.

Với mục đích trên ban liên lạc rất mong được sự đồng tình và hưởng ứng của mọi thành viên trong gia tộc; bằng cách thường xuyên trao đổi cung cấp tài liệu và viết bài cho bản “ thông tin gia tộc họ Tưởng”. Đối với các vị không có điều kiện viết bài có thể dùng hình thức ghi âm kể chuyện cho con cháu ghi lại những vấn đề mình biết và quan tâm; gửi về cho ban liên lạc dòng họ. Chúng tôi dự định mỗi năm sẽ ra một hoặc hai số thông tin gia tộc họ Tưởng gửi đến từng địa phương có dòng Tộc họ Tưởng đang sinh sống.

Nhân dịp này ban liên lạc gia tộc họ Tưởng xin chân thành cảm ơn nhiệt tình tham gia viết bài của các vị: Tưởng Văn Hòa (Tả Thanh Oai), Tưởng Phi Vượng (Văn Nội), Tưởng Duy Hiếu (Hà Nội), Tưởng Long (Quảng Nam), Tưởng Khoa Nguyễn Tuất (Quảng Bình), Tưởng Văn Quế (Huỳnh Cung), Tưởng Phi Phương (Văn Nội), Tưởng Riện (Quảng Nam). Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn cụ Tưởng Phi Đằng (ban cố vấn dòng tộc thuộc chi tộc thôn Văn Nội) và ông Hoàng Tuấn Cư (nhà xuất bản văn hóa dân tộc) đã tư vấn những ý kiến quý báu, giúp chúng tôi biên tập và viết bài cho số đầu tiên của bản “thông tin gia tộc họ Tưởng”.

Do trình độ và thời gian hạn chế khó tránh khỏi những khiếm khuyết và sai sót, rất mong được sự chỉ bảo và lượng thứ của các vị trong đại gia tộc.

Ban liên lạc đại gia tộc họ Tưởng.

VĂN BIA TƯỞNG ĐẠI TỘC

Dòng tộc họ Tưởng thuộc dân tộc Kinh ở Việt Nam có nguồn gốc lâu đời, theo phả Tưởng Đại Tôn tại Tả Thanh Oai và các địa phương, họ Tưởng  tính đến nay là 23 đời, thời gian đã gần 700 năm. Nay tu tạo Lăng bia, mặt trước khắc bài vị 8 Tổ táng tại đây, mặt sau khắc Tổ họ Tưởng ở các địa phương, Tộc trưởng các đời và Tổ thúc hiển đạt.

Cụ Thủy Tổ (sống ngang niên hiệu Thiệu Phong 1341 – 1357 Trần Dụ Tông) Tưởng Tướng công tự Đức Tiên, sinh vào đầu thế kỷ XIV. Tổ mất táng tại Tả Thanh Oai – Thanh Trì – Hà Nội ( Hà Đông cũ).

Tổ đời thứ 2 Tưởng Quý Công hiệu Đức Tiến Phủ Quân sống ngang (Niên hiệu Long Khánh 1373- 1377).

Tổ đời thứ 3 sống ngang ( Niên hiệu Trùng Quang 1409 – 1413) Tưởng Quý Công hiệu Đức Ngu Phủ Quân thọ 81 tuổi.

Tổ đời thứ 4 sống ngang ( Niên hiệu Thuận Thiên 1428- 1433) Tưởng quý công hiệu Đức chính Phủ Quân, thọ 99 tuổi, sinh được 6 người con trai.

Tổ đời thứ 5 sống ngang ( Niên hiệu Thái Hòa 1443 – 1453) gồm sáu chi Tổ là:

Chi trưởng Tưởng Quý Công hiệu Phúc Khê, chi 2 Tưởng Quý Công hiệu Hiền Nhân, chi 3 Tưởng Quý Công hiệu Thủ Hòa, chi 4 Tưởng Quý Công hiệu Phúc Chính, chi 5 Tưởng Quý Công hiệu Phúc Sơn, chi 6 Tưởng Quý công hiệu Phúc Huy, nay hình thành 6 đại chi tộc có tới 19 đời, phát triển thành nhiều chi, nhánh, phái từ Bắc vào Nam. Dưới đây là những địa phương có nhiều đời họ Tưởng đang sinh sống.

Thành phố Hà Nội, huyện Thanh Trì, xã Tả Thanh Oai có 4 đại chi thờ thủy tổ 23 đời Tưởng Tướng Công tự Đức Tiên; thôn Huỳnh Cung có 2 chi thờ Tổ 13 đời Tưởng Quý Công hiệu Phúc Giang; xã Hữu Hòa có 2 chi thờ Tổ 13 đời Tưởng Quý Công hiệu Phúc Hà.

Tỉnh Hà Tây, huyện Thanh Oai, xã Phú Lương, thôn Văn Nội có 6 chi thờ tổ 19 đời Tưởng Quý Công hiệu Phúc Sơn; huyện Chương Mỹ xã Hoàng Diệu có 2 chi thờ Tổ 8 đời Tưởng Minh; huyện Ứng Hòa xã Tảo Dương Văn có 2 chi họ Tưởng.

Tỉnh Quảng Bình huyện Quảng Trạch, xã Quảng Tùng; tỉnh Hà Tĩnh, huyện Kỳ Anh, xã Kỳ Liên, tỉnh Nghệ An, huyện Nam Đàn, xã Đồng Châu, làng Dương Liễu; Huyện Thanh Chương, xã Quảng Thái, xã Bích Triều các chi thờ tổ 17 đời, Tưởng Quý Công hàm “ Bắc triều đại vương”.

Tỉnh Quảng Nam: huyện Đại Lộc, xã Đại Hiệp, xã Đại Thạnh; huyện Điện Bàn, xã Điện Thắng, Điện Tiến, ĐiệnHòa, Điện Hồng thị xã Tam Kỳ, phường Trường Xuân; các chi tôn thờ tổ 11 đời “Tưởng Phủ quan công”.

Hiện nay trên mọi miền tổ quốc còn có nhiều chi tộc họ Tưởng đang sinh sống.

Họ Tưởng theo (Đại Việt sử ký toàn thư) năm 1406 có “Thiêm phán Tưởng Tư” đi sứ sang nhà Minh, năm 1448 có : “Chuyển vận Phó sứ Tướng Thừa Hy làm Trung đô phủ Thiếu Doãn”.

Tổ đời  thứ 6 ( niên hiệu Hồng Đức 1470 – 1497) Tưởng Quý Công hiệu Đức Khê thọ 75 tuổi.

Tổ đời thứ 7 Tưởng Quý Công hiệu Tu Đạo (sinh năm 1498 mất năm 1573) hàm: “Quang Tiến Trấn quốc Đại tướng quân: Phụng Thánh, Thiên Định nhị vệ đô quản, lĩnh tước Phúc Toàn quận công”; Tổ thúc Tưởng Quý Công hiệu Đoan Tĩnh hàm: “Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Tư lễ Giám thủ Thái giám Tri quản ích viện, tước Đoan Nghĩa quận công”.

Tổ đời thứ 8 Tưởng Quý Công hiệu Phúc Sơn (1523-1582) chức “Vũ huân Tướng quân Hữu điểm kiểm”; Tổ thúc Tưởng Quý Công hiệu Phúc Ngộ chức “Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân: Bảo Trung, Thần Ưng nhị vệ quản lĩnh Văn Phong quận công”.

Tổ đời thứ 9 Tưởng Quý Công hiệu Đức Trí ( 1572- 1627) chức “Tiến công lang Tri thượng lâm viện sự”, sau theo đạo Phật được vua ban hiệu “Tông  đầu trí tuệ bồ tát”; Tổ thúc  Tướng Quý Công hiệu Phúc Thành chức “Quang tiến trần quốc đại tướng quân hùng uy vệ quản lĩnh Thọ Cường hầu”.

Tổ đời thứ 10 Tưởng Quý Công hiệu Đạo Cao (1610 – 1644) chức “Tiến công lang Tri thượng lâm viện”.

Tổ đời  thứ 11 Tưởng Quý Công hiệu Đức Thái ( 1644 -1714)

Tổ đời thứ 12 Tưởng Quý Công hiệu Đức Nhuận ( 1670 – 1719); Tổ thúc Tưởng Quý Công hiệu Đức Hiển đỗ khoa Tân Mão (1711), chức “sơn nam đốc phủ, chủ bạ”.

Tổ đời thứ 13 Tướng Quý Công hiệu Đức Thùy ( 1718 – 1789)

Tổ đời thứ 14 Tướng Quý Công hiệu Đức Gia (1747- 1822): “Cung thận lang, chức Tư vụ Bộ hộ tước Gia Đức tử”; Tổ thúc Tướng Quý Công hiệu Đức Thành hàm: “Hoa sơn đại tướng quân”.

Tổ đời thứ 15 Tưởng Quý Công hiệu Phúc Thuần (1766- 1843) là “Phụng nghị Đại phu, Sơn Nam trấn thư ký, tước Thanh Sơn bá”.

Năm 1820 đại tộc họ Tưởng đã quyết định dựng bia: “Tưởng đại tôn hợp tự chia bia” đế tế Tổ hàng năm vào ngày chủ nhật sau rằm tháng Giêng.

Tổ đời thứ 16 Tưởng Quý Công hiệu Phúc Chân (1806 – 1872) là “Tổng giáo huyện Phù Yên, tỉnh Hưng Hóa”.

Cụ đời thứ 17 Tưởng Huy Điều hiệu Đức Cương (1844 – 1904) là “Thập lý hầu”.

Cụ đời thứ 18 Tưởng Bá Hoành hiệu Minh Ngọc (1870 – 1930) là “Lý trưởng, hàm Tòng cửu phẩm Bá hộ”.

Cụ đời thứ 19 Tưởng Đại hiệu Hương Đại (1892- 1966) là Lý trưởng.

(chi 2 đời thứ 19) cụ Tưởng Dân Bảo (1907-1947) đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, đặc phái viên ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ, bí thư kiêm chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Châu Đốc. Mộ táng ở nghĩa trang liệt sỹ thành phố Hồ Chí Minh được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Cụ đời thứ 20 Tưởng Văn Hợp tự Văn Kình (1918- 1985)

Kế tục và phát huy truyền thống tốt đẹp của tổ tiên, ngày nay con cháu họ Tưởng đã và đang góp nhiều công sức trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Ban cố vấn, ban liên lạc, ban khánh tiết nghị sự thực hiện tâm đức toàn họ về việc tu tạo lăng bia. Trưởng Tộc đời thứ 21 Tưởng Văn Hòa cung ký.

Khánh thành ngày Đông Chí năm Quý Mùi “ 2003” Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

HỌ TƯỞNG Ở TẢ THANH OAI

Nguồn gốc lâu đời của dòng họ Tưởng là ở Tả Thanh Oai. Thủy tổ Tưởng Tướng Công tự Đức Tiên Phủ Quân sống ngang niên hiệu Thiệu Phong đời vua Trần Dụ Tông có chiều dầy lịch sử gần 700 năm. Căn cứ vào Thần phả có ở Đình thời xã Tả Thanh Oai thờ bà Chúa Hiến (Quý Phi của Vua Lê Hoàn) thì làng Tả Thanh Oai có lịch sử gần 1000 năm. Làng Tả Thanh Oai  còn gọi là làng Tó xưa kia thuộc trấn Sơn Nam. Từ trấn Sơn Nam đổi tên thành tỉnh: Hà Đông, nay thuộc về huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội với những họ lớn ở trong làng cùng có lịch sử lâu đời theo câu truyền miệng “nhất Tưởng nhị Ngô tam Nguyễn Tộc” đó là vào thời kỳ làng Tó có một họ Tưởng, hai họ Ngô và ba  họ Nguyễn. Quan hệ thông gia với nhau qua nhiều thế hệ. Câu truyền miệng “Ngô lập ấp, Nguyễn khai khoa, Tưởng quận công” đó là do họ Ngô được phong đất đầu tiên, họ Nguyễn đỗ đạt mở trường đầu tiên, còn họ Tưởng phát về võ được phong tước quận công đầu tiên. Cả làng Tó có 12 Tiến sỹ lưu danh trong Văn Miếu Quốc Tử Giám đều thuộc họ Ngô và họ Nguyễn, trong đó có cụ bà Tưởng Thị Lãng là dâu họ Ngô đã sinh ra tiến sỹ Ngô Thì Sỹ và là bà nội của tiến sỹ Ngô Thì Nhậm. Họ Tưởng ở Tả Thanh Oai cũng như các họ lớn trong làng đều giữ được gia phả. Có nhà thờ do dòng trưởng gìn giữ và có bia đá, đàn tế Tổ dựng cách đây khoảng 200 năm đó là những di tích vô cùng quý giá. Họ Tưởng ở Tả Thanh Oai truyền đến đời thứ tư cụ tổ sinh ra 6 người con trai; 4 người ở lại Tả Thanh Oai hình thành 4 đại chi trong đó có chi trưởng, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Tuy lâu đời nhưng các đại chi năm nào cũng tập hợp nhau lại làm lễ giỗ Thủy Tổ, con cháu về dự rất đông, quan hệ gần gũi thành một đại gia đình. Trước đây đại tộc có ruộng họ, con cháu đi dự lễ giỗ Tổ không phải đóng góp gì. Người con thứ 5 và thứ 6 được triều đình phong kiễn cũ cử đi trấn ải các vùng biên cương phía Nam của đất nước. Hiện nay dòng tộc họ Tưởng đã xác định được các đại chi tộc định cư sinh sống có nhà thờ và mộ tổ ở các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An , Hà Tây, Hà Nội.

Chi trưởng đến đời thứ 7 thì các cụ tổ làm quan được phong tước quận công và ba đời liền anh em ruột đều có sự nghiệp lớn. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp có ông Tưởng Dân Bảo ( chi thứ 2 đời thứ 19) người có công tổ chức đưa ra Côn Đảo đón hàng ngàn tù chính trị về đất liền  tháng 9 năm 1945. Được nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Và bà Tưởng Thị Ngọ (chi thứ 3) được tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Đất Tả Thanh Oai ở vào vị trí bảo vệ cho Kinh Đô ở các thời kỳ nên thời bình thì trù phú, nhiều nhân tài, còn trong thời chiến thì đinh tráng trong làng đều tham gia bảo vệ đất nước và con trai họ Tưởng cũng phát triển theo hướng đó.

Theo gia phả chi trưởng đang giữ thì có tới 15 tổ thúc các đời, hậu duệ đã đi lập nghiệp trên khắp mọi miền đất nước.

Hiện tại có 20 cụ cao niên từ 70 tuổi  trở nên, và các cụ lão thành cách mạng.

Trải qua năm tháng học tập, rèn luyện con cháu họ Tưởng đã có nhiều công thành danh toại. Ví dụ:

-         có một cụ bà là mẹ Việt Nam anh hùng.

-         Trong khoa học có 2 vị có bằng tiến sỹ.

Có 25 vị là Kỹ sư, Bác sỹ, Thạc sỹ.

Có 2 vị là giám đốc danh nghiệp nhà nước.

-         trong quân đội có 2 vị là Đại tá.

Hậu duệ dòng họ Tưởng xã Tả Thanh Oai đời thứ 21

Bác sỹ Tưởng Văn Hòa.

SƠ LƯỢC VỀ DÒNG TỘC HỌ TƯỞNG

thôn Văn Nội – xã Phú Lương- huyện Thanh Trì – tỉnh Hà Tây

trước năm 1954 là thôn Văn Nội – tổng Phú Lãm- phủ Thanh Oai – tỉnh Hà Tây.

Tưởng tộc thế phả

Theo giá phả thì nguồn gốc họ Tưởng quê quán xa xưa tại xã Tả Thanh Oai – huyện Thanh Trì- Hà Nội ( trước năm 1954 thuộc tỉnh Hà Đông).

Hiển thủy Đại tổ khảo là cụ Tưởng Tướng Công tên chữ là Đức Tiên Thủ Quân. Cụ tổ bà họ Ngô hiệu là Bảo Sinh An Nhân. Các cụ sống và hoạt động vào khoảng niên hiệu Thiệu Phong (1341-1357) đời vua Trần Dụ  Tông.

Đệ nhị Đại tổ  khảo là cụ  Tưởng Quý Công, tên chữ là Đức Tiến Phủ Quân; cụ tổ bà họ Nguyễn tên hiệu Diêu Trường An Nhân. Các cụ sống và hoạt động vào cuối đời Vua  Trần niên hiệu Long Khánh ( 1373-1377).

Đệ tam Đại Tổ Khảo là cụ Tưởng Quý Công, tên chữ là Đức Ngu Phủ Quân( người có đức độ hiền từ được mọi người quý mến). Các cụ sống và hoạt động vào niên hiệu Trùng Quang đời vua nhà Trần ( 1409- 1413).

Đệ tư Đại tổ khảo là cụ Tưởng Quý Công, tên chữ là Đức Chính Pohur Quân. Cụ tổ bà hiệu là Từ Thục An Nhân, các cụ sống và hoạt động vào niên hiệu Thuận thiên đời vua Lê Thía Tổ(1428-1433). Cụ ông thông hiểu kinh sách nhà Phật , đã cùng với các nhà sư đi du ngoạn các chùa chiền và danh lam thắng cảnh khắp mọi miền đất nước. Cụ hưởng thọ 99 tuổi, sinh được 6 người con trai và 1 người con gái. Trong đó 4 người ở lại Tả Thanh Oai lập nghiệp. Người con trai thứ 5 sang định cư gây dựng cơ nghiệp tại thôn Văn Nội trở thành đên nhất Đại tổ khảo tại Văn Nội. Danh tính cụ Tổ họ Tưởng ở thôn Văn Nội là cụ Tưởng Quý Công hiệu Phúc Sơn, tên chữ là Đặng Nguyên, sống và hoạt động vào niên hiệu Thái Hòa đời vua Lê Nhân Tông ( 1443-1453).

Dòng tộc họ Tưởng tu nhân tích đức, chăm chỉ làm ăn, đoàn kết tương thân tương ái với các dòng họ khác trong làng xóm, sinh con đàn cháu đống, hình thành ra 6 chi nhánh. Đến đời chúng tôi ở lứa tuổi từ 60-70 ( của thế kỷ XX-XXI) là đời thứ 17, tại Văn Nội, Hà Tây ( tương ứng đời thứ 21 của đại tộc họ Tưởng tại xã Tả Thanh Oai, Hà Nội).

Nói về thôn Văn Nội- xã Phú Lương- huyện Thanh Oai- tỉnh Hà
Tây là một làng cổ nhân Việt ,cả làng,xã đều là dân tộc Kinh theo đạo Phât.

Năm 1981 , tại cánh đồng thôn Văn Nội, các nhà khảo cổ học đã tiến hành khảo sát và xác định di chỉ này có từ thời Hai Bà Trưng( năm 38 sau công nguyên). Cả tổng Phủ Lãm ( nay là hai xã Phú Lương và xã Phú Lãm) gồm 12 thôn, đã hình thành một chiến tuyến  chống giặc ngoại xâm kéo dài hơn 3 km suốt dọc chiều dài của hai xã; đền thờ các vị tướng và sắc phong Thành Hoàng của các vị thần được triều đình phong kiến phong tặng cùng các nghi thức tế lễ tại các đền,đình trong cả 12 thông đã thể hiện rất rõ.

Đặc biệt năm 2001 dân thôn Văn Nội đã đào được và bảo quản 1 trống đồng cổ có niên địa ngang với trống đồng Ngọc Lũ hiện đang trưng bày tại Bảo tàng lịch sử  tỉnh Hà Tây.

Dòng họ Tưởng tại Văn Nội hễ là con trai đều có chữ đệm là Phi ( Tưởng Phi…) đây là một điều rất rõ nét, vì thế con em họ Tưởng đi làm ăn sinh sống ở nhiều địa phương khác nhau đã  nhận ra nhau từ đặc điểm đó.

Họ Tưởng cùng với các họ khác trong thôn Văn Nội cần cù làm ăn xây dựng quê hương, có chí tiển thủ, chịu khó học hành. Hiện tại, họ Tưởng thôn Văn Nội có nhiều vị là đại tá quân đội, kỹ sư,bác sĩ,giám đốc các doanh nghiệp nhà nước, lãnh đạo cấp vụ của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, lãnh đạo cấp tỉnh của tỉnh Hà Tây, nhiều thợ giỏi và doanh nhân thành đạt,một số cháu là học sinh giỏi.

Nhờ phúc ấm của tổ tiên và sự cần cù lao động sáng tạo của con em họ Tưởng tại thôn Văn Nội hiện có nhiều hộ làm kinh tế khá giả, không còn họ đói nghèo. Một số gia đình đang định cư ở nước ngoài cũng đã thường xuyên hướng về quê cha đất  tổ, dòng tộc đã trở lại quê hương thăm viếng mộ tổ hoặc gửi thư về thăm hỏi giữ ấm áp tình quê hương dòng tộc.



Hậu duệ  dòng họ Tưởng tại thôn Văn Nội – đời thứ 17

Kĩ sư. Tưởng phi  Vượng










GIỚI THIỆU TÓM TẮT

DÒNG TỘC HỌ TƯỞNG

TẠI THÔN PHÚC KIỀU – XÃ QUẢNG TÙNG – HUYỆN QUẢNG TRẠCH-TỈNH QUẢNG BÌNH


BỐI CẢNH RA ĐỜI


  1. đất nước đang yên vui thanh bình, hòa cùng các dòng họ dân tộc Việt Nam. Với ý nguyện tìm tổ tiên, nòi giống, giữ gìn và phát huy truyền thống cội nguồn, xây dựng, đào tạo, động viên khuyến khích con em học hành, tu dưỡng nối bước cha anh ngày một vẻ vang, rạng danh cho dân tộc.
  2. dòng họ Tưởng tại Quảng Bình đông vui, đoàn kết, lớn mạnh hòa cùng các dòng họ khác trong địa phương. Khi nói về hiện tại ai cũng biết, cũng thấy; Khi nói về tương lai ai cũng hy vọng, ước mơ. Nhưng khi nói về quá khứ, nhất là quá khứ xa xưa thì chỉ còn lại những câu chuyện  truyền miệng từ đời này qua đời khác mà thôi. Được biết dòng tộc họ Tưởng đang sinh sống trên khắp đất nước, mừng mừng, tủi tủi; Mừng vì có anh em, có bạn bè, tủi vì xưa này đơn lẻ, ly tán…
  3. Với hi vọng tập hợp thông tin, nhằm biên soạn cuốn tộc phả họ Tưởng tại Việt Nam. Nay tôi xin phép được ghi tóm tắt những thông tin được nghe, được thấy, được biết của dòng tộc họ Tưởng tại Quảng Bình. Là lần giới thiệu đầu tiên chắc hẳn có nhiều thiết sót, khiểm khuyết, mong được sớm điều chỉnh, bổ sung và thứ lỗi.



CÂU CHUYỆN KỂ LẠI


  1. Ngày xửa ngày xưa có hai anh em trai đi từ hướng Bắc tới sinh cơ lập nghiệp nơi đây. Thuở ấy là thuở nào, nơi ấy gọi là gì thì không còn ai nhớ, ai biết nữa. Sau một thời gian người anh ở lại còn người em ra đi mở cơ nghiệp tại vùng Nghệ An.
  2. thôn Phúc Kiều được gọi tên từ bao giờ chưa ai biết, người đời chỉ biết có một ngôi mộ đã có từ rất lâu gọi là “MỘ ÔNG LỆ” được coi là ngôi mộ cổ nhất của thôn Phúc Kiều; Đại Tổ Khảo Tưởng Quý Công, tên chữ là Khai Khẩn Phủ Quân; Cụ tổ bà đến nay chưa rõ. Các cụ sống và hoạt động vào niên hiệu thuận thiên đời Vua Lê Thái Tổ, hoặc Niên hiệu Thái Hòa đời Vua Lê Nhân Tông.
  3. các cụ cao niên ước tính dòng họ Tưởng sinh cơ lập nghiệp nơi đây khoảng 17 đời, tương đương 500 năm về trước.


VỀ DÒNG HỌ TƯỞNG  Ở TỈNH QUẢNG BÌNH

Dòng họ Tưởng đang sinh sống tại thôn Phúc Kiều và các thông lân cận trong xã cộng với 2 chi ở Mỹ Đức – Lệ Thủy và Kỳ Liên- Kỳ Anh; khoảng 500 hộ ứng với 1500 đinh và tạm thời chia thành 6 họ ( theo ông Tưởng Thanh Đua, Chủ Tịch Ủy Ban nhân dân xã Quảng Tùng) như sau:

  1. Họ ông Ủy: Ông Tưởng Ủy sinh vào khoảng năm 1920, mất năm 1990, không con trai: Ông thứ là Tưởng Hàm mất năm 2003, hiện tại cháu đích tôn của ông Hàm là trưởng họ. Nhà thờ họ được xây lại năm 2002, họ có khoảng 100 hộ ứng với 300 đinh. Đang lưu giữ gia phả họ tộc.
  2. họ ông Vẹt: Ông Tưởng Vẹt tên thường gọi là ông Cống Vẹt sinh vào khoảng 1920, mất năm 1986, không có con trai ông thứ là Tưởng Nhục mất năm 2001, con trai ông Nhục là trưởng họ. Nhà thờ họ chưa được xây lại, họ có khoảng 100 hộ. Đang lưu giữ gia phả họ tộc. Họ này di cư nhiều, có nhiều khả năng dòng họ Tưởng tại Quảng Nam,  Đà Nẵng có nguồn gốc từ đây.
  3. Họ ông Vựng: Ông Tưởng Vựng sinh năm 1921 mất năm 1996, ông thứ là Tưởng Tuân sinh năm 1923, mất năm 2001, con trai trưởng họ; Tưởng Khoa Đức Tuấn, họ có khoảng 100 hộ, gồm 2 chi Lệ Thủy và Kỳ Anh. Gia phả họ tộc đã mất vào năm 1966 (khi chiến tranh ác liệt). Nhà thờ được xây dựng lại và khánh thành vào ngày 6 tháng Chạp năm Quý Mùi.
  4. Họ ông Thể: Ông Tưởng Trọng Thể sinh năm 1935, hiện là trưởng họ, đang tìm kiếm sưu tầm họ tộc. Nhà thờ chưa xây dựng lại.
  5. Họ xóm Soi: Ông Tưởng Hồng Chân sinh năm 1950 là trưởng họ, sinh sống tại Hải Phòng đang tìm kiếm tập hợp họ tộc. Nhà thờ chưa xây dựng lại. Họ có khoảng 100 hộ.
  6. Họ Tưởng khác đang tìm kiếm và sưu tầm.


CUỘC SỐNG HIỆN TẠI

Đa số bà con dòng họ Tưởng tại Quảng Bình sinh sống bằng  nghề trồng trọt, chăn nuôi. Kinh tế trung bình không có người quá giàu, không có người nghèo. Truyền thống hiếu học, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Sự nghiệp phát triển đa dạng, đời nào cũng có người làm quan chức, năm nào cũng có các cháu thi đỗ vào đại học và học sinh giỏi cấp trường, huyện, tỉnh. Có bà mẹ Việt Nam anh hùng. Trong binh nghiệp cấp hàm cao nhất là Đại Tá, trong hành chính nghiệp chức vụ cao nhất là Chủ tịch UBND huyện, trong kinh doanh vị cao nhất là Tổng giám đốc…Ước nguyện của dòng họ Tưởng tại Quảng Bình là được giao lưu, học hỏi, thăm viếng tất cả các anh em trong dòng tộc họ Tưởng đang làm ăn sinh sống trên khắp mọi miền tổ quốc.

Kính chúc Tưởng Đại Tộc và các tộc gia đón xuân Giáp Thân An Khang-  Thịnh Vượng. Năm mới gánh nhiều thắng lợi mới!


Hậu duệ dòng họ Tưởng tại thôn Phúc Kiều đời thứ 17


Kĩ sư: Tưởng Khoa Nguyên Tuất

ĐT: 0913263197

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ DÒNG TỘC HỌ TƯỞNG TẠI THỊ XÃ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM.


Tương truyền dòng họ tộc họ Tưởng tại Tam Kỳ xuất xứ từ xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam vào khoảng đời vua Thành Thái. Theo gia phả thì ông Tổ vào khai cơ lập nghiệp đầu tiên tại An Tân, dần dần phát triển ra Vạn Tam Kỳ. Đến các đời sau con cháu định cư tại Ngọc Thọ nay là phường Trường Xuân  thuộc thị xã Tam Kỳ, hiện  có gia phả bằng chữ Nho của các cụ để lại và đã xây nhà thờ Tổ tại đây (gọi là nhà từ đường). Cứ đến ngày 19 tháng Chạp âm lịch là ngày giỗ Tổ, con cháu tập hợp kỷ niệm để dâng hương tổ tiên, ông bà và cũng là ngày tu bổ phần mộ gia tộc.

Dòng tộc họ Tưởng ở Tam Kỳ Quảng Nam có 3 thế hệ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc làm cách mạng chống thực dân  Pháp và đế quốc Mỹ. Trong một gia đình có 3 anh em hoạt động cách mạng, bị địch bắt tù đày ở các nhà tù Hội An, Phú Bài, Huế. Đã có 2 người liệt sỹ.

Ngày nay con cháu họ Tưởng ở phường Trường Xuân thị xã Tam Kỳ, Quảng Nam đang phát triển, đời sống đã khá hơn rất nhiều so với trước đây, mọi người đều tin tưởng vào cuộc sống mới hăng say lao động, học tập, tin tưởng vào những ngày mới tốt đẹp hơn, có ý chí vươn lên phía trước, hướng tới tương lai sáng lạng.


Hậu duệ đời thứ ( tính đến năm 2004) là 83 tuổi

Tưởng Long

Địa chỉ: Phường Trường Xuân, thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.


SƠ LƯỢC VỀ CHI TỘC HỌ TƯỞNG

Thôn Huỳnh Cung xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội


Tương truyền cụ Thủy Tổ chúng tôi xuất xứ từ làng Tó huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Hàng năm, con cháu của chi tộc họ Tưởng ở thôn Huỳnh Cung đều đến dự ngày lễ giỗ tổ gia tộc họ Tưởng tại Tả Thanh Oai. Chúng tôi là đời thứ 12 chi tộc Huỳnh Cung cũng đã được đôi lần theo ông nội đi dự lễ giỗ tổ tại từ đường Tưởng đại tộc, đó là những kỷ niệm sâu sắc, niềm vui sướng hân hoan mang theo suốt từ tuổi ấu thơ cho đến ngày nay.


Hoàn cảnh và cuộc đời của cụ Tổ họ Tưởng tại thôn Huỳnh Cung:

Tương truyền cụ tổ ông đến đất Huỳnh Cung lấy vợ sih con rồi một mình bôn tẩu ngược xuôi kiếm kế sinh nhai, gia phả ghi lại thì cụ sống bằng nghề buôn bán tơ tằm vải vóc, giao lưu giữa miền ngược và miền xuôi bằng thuyền bè thường xuyên ngược xuôi trên sông nước. Cụ  kết duyên với hai cụ bà làng Huỳnh: Tổ bà thứ nhất sinh được trưởng nam là Tưởng Thời Trung, chết lúc còn nhỏ. Tổ bà thứ hai sinh được hai người con trai là cụ Tưởng Đình Tiên và cụ Tưởng Đình Hiền.

Trong gia phả chỉ ghi tên hiệu cụ Tổ ông là cụ Phúc Giang. Tên hiệu Phúc Giang đó là đặc trưng một sự tích, một sự nghiệp, một số phận, một cuộc đời của tổ chi Huỳnh Cung chúng tôi.

Đã nhiều đời nay chi tộc họ Tưởng ở Huỳnh Cung và đại tộc họ Tưởng xã Tả Thanh Oai gắn kết tình anh em giao lưu qua lại vào những dịp giỗ Tổ hàng năm. Thường xuyên quan tâm thăm hỏi động viên trong mỗi thành tựu của hai chi tộc.

Trong tiềm thức những người con họ Tưởng chi Huỳnh Cung từ xưa đến nay đều tâm niệm rằng tổ tiên và nơi cố hương của chính mình là làng Tó tức xã Tả Thanh Oai bây giờ.

Cụ Tổ chi họ Tưởng chúng tôi lập cư tại Huỳnh Cung vào thập kỷ đầu của thế kỷ XVII thời gian khoảng 400 năm, tính đến nay đã có 13 thế hệ:

Từ đời cụ đên nhấ Chi Tổ đến đời thứ 5 phần lớn hướng theo sự nghiệp buôn bán.

Cụ tổ đời thứ 6 học hành thành đạt thi đỗ khoa trường sau được vào nội phiên Triều Lê, được giao trách nhiệm là “hữu phiên phó hợp kỳ” được thụ tướng đồ chức. Sau lại được bổ nhiệm chức tư thừa ở huyện Vĩnh Khang. Cụ được gia đạo sắc phong.

Cụ tổ đời thứ 7, thứ 8 được dân làng tín nhiệm bầu làm lý trưởng lại có nghề thầy thuốc và dạy học.

Cụ tổ đời thứ 9 tham gia quân đội triều đình nhà Nguyễn, được phong hàm thất phẩm.

Đời thứ 10 có cụ tham gia thế chiến thứ nhất chống phát xít Đức rồi tiếp tục bình nghiệp được phong hàm bát phẩm.

Đời thứ 11 có 4 cụ ông, 3 cụ đã mất, còn lại 1 cụ nay đã 86 tuổi, các cụ sinh ra và trưởng thành vào thời kỳ Pháp thuộc và cách mạng tháng Tám, đều là người dân lương thiện. Hòa bình lập lại ( 1954) là cán bộ công nhân viên nhà nước.

Đời thứ 12 tức thế hệ chúng tôi, gồm 13 đinh nam. Tuổi đời từ 50-60 tuổi đều là cán bộ công nhân viên chức nhà nước, một số đã nghỉ hưu, có nhiều anh em trong số này là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hậu duệ đời thứ 13 có 20 cháu trai hiện tại có 6 cháu đang là sinh viên các trường đại học và cao đẳng, còn lại đều học hết cấp 3 hoặc đang theo học các trường phổ thông.

Toàn chi tộc họ Tưởng ở Huỳnh Cung chúng tôi đoàn kết một lòng , chăm chỉ học hành, có chí tiến thủ, lao động cần cù, sáng tạo, để hướng tới một tương lai tốt đẹp.


Tưởng Văn Quế

Hậu duệ đời thứ 12 chi tộc Huỳnh Cung huyện Thanh Trì, Hà Nội

Điện thoại 04-6885227

GIỚI THIỆU TÓM TẮT DÒNG TỘC HỌ TƯỞNG TẠI

QUẢNG NAM-ĐÀ NẴNG


Theo ông bà kể lại, vào thế kỷ XVI, tính đến nay khoảng 400 năm, dòng tộc họ Tưởng từ phương Bắc di  chuyển vào miền Trung. Tương truyền có  một ông quan võ họ Tưởng được cử vào miền Trung làm việc, đến khai cư tại thôn  Phong Lục, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông là một quan võ được cử đi trấn giữ nơi biên cương tổ quốc thời xa xưa đó: ông đã tập hợp được dân chúng địa phương khai khẩn đất đai, xây làng lập ấp.

Sau nhiều cuộc chiến đấu chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm giữ làng giữ đất, ông đã anh dũng hy sinh tại cánh đồng xã Điện Thắng. Mộ ông được dân làng an táng tại đây.

Từ nhiều đời nay nhân dân trong vùng đã xây và gìn giữ đền thờ ngài; di tích đền thờ vẫn còn tới ngày nay dưới tán một cây cổ thụ vài  trăm năm tuổi. Nhân dân trong khu vực Điện Thắng vẫn tới ngôi mộ của ngài thắp hương cầu khấn và cho rằng ngài rất linh thiêng, luôn phù hộ  cho cư dân trong khu vực được mọi sự an bình..

Con cháu họ Tưởng dần đây đã đưa bia mộ ngài rời về núi Sơn Gà, xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

-         Khi vào miền Trung lập nghiệp ông có đem theo 4 người con trai:

-         Ông thứ nhất ở xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

-         Ông thứ hai ở xã Đại Thạnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

-         Ông thứ ba ở xã Đông Quang, huyện Điện Bàn , tỉnh Quảng Nam.

-         Ông thứ tư ở phường Trường Xuân, thị xã Tam Kỳ.

Sự phát triển của dòng tộc họ Tưởng ở Quảng Nam hiện nay.

-         Hiện tại dòng tộc có 190 hộ ừng với 950 nhâu khẩu. Đã đóng góp cho đất nước qua các thời kỳ chiến tranh chống Pháp,  chống Mỹ. Có hàng trăm con em tham gia hoạt động cách mạng , nhiều người trong số đó đã hy sinh anh dũng trong sự nghiệp chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

-         Đến nay nhà nước đã công nhân dòng họ Tưởng có 6 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 29 liệt sỹ, 4 vị lão thành cách mạng và nhiều gia đình có công với cách mạng.

-         Đời sống của bà con trong dòng tộc đến nay đã được ổn định, con em đến tuổi trưởng thành đều tham gia công tác xây dựng địa phương, đất nước. Chức vụ cao nhất đã kinh qua là:

+ Một vị là chủ tịch huyện

+ một vị là thường vụ thành ủy thành phố Đà Nẵng

+ Nhiều chiến sỹ thi đua cấp tỉnh

+ Nhiều kỹ sư bác sỹ

Về phần học tập:

Các cháu trong tộc họ rất chăm chỉ học hành: từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay đã có 19 cháu thi đỗ vào các trường đại học,  có 1 cháu đỗ điểm cao vào hai trường đại học, được chọn đi du học tại Úc, hiện nay đã học hết năm thứ nhất, kết quả học tập rất tốt.

Năm 2003 có 1 cháu thi đỗ vào đại học quân sự.

Nhân dịp năm mới Giáp Thân, thay mặt cho dòng tộc họ Tưởng tại Quảng Nam, Đà Nẵng kính chúc bà con cô bác dòng tộc họ Tưởng trên khắp mọi miền đất nước và ở nước ngoài thành đạt, mạnh khỏe, an khang, thịnh vượng, đoàn kết nhất trí luôn hướng về quê hương, mộ tổ, đất nước.



Kỷ niệm ngày giỗ 663 năm cụ Tưởng Thủy Tổ

Ngày 18 tháng giêng năm Giáp Thân

( tức ngày 8 tháng 2 năm 2004)

Hậu duệ đời thứ

Tưởng Riện


LỜI GHI NHẬN VỀ DÒNG HỌ TƯỞNG Ở VIỆT NAM


Những năm trước đây tôi đã biên tập một số sách về các dòng họ Tưởng, họ Ngô, họ Hà…Tôi vinh dự được mời dự vào các dịp tế, lễ, họp mặt tại nhà thờ Tổ của các họ nói trên; gần đây là dòng họ Tưởng ở xã Tả Thanh Oai trước thuộc tỉnh Hà Đông, nay thuộc huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Đến đây tôi được nghe nói về lịch sử truyền thống của dòng họ, về những câu chuyện truyền ngôn của dòng họ Tưởng cư trú ở một số vùng, miền của nước Việt Nam; về nguồn gốc , gia phả, về các cuộc dịch chuyển của các chi nhánh dòng họ Tưởng từ Bắc vào tới các tỉnh thuộc đất miền Trung mà xa nhất là tỉnh Quảng Nam. Tôi đã nghe nói về cuộc sống của dòng họ trước đây và ngày nay dưới chính thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tôi thấy họ vừa có chút tự hào, vừa ý thức về dòng họ, vừa suy nghĩ về trách nhiệm của mình; ở họ có những đức tính cần cù, chịu khó, thông minh, năng động trong sản xuất, trong công tác,chăm chỉ trong học hành; với thiên nhiên gắn bó hòa đồng; với con người nhân hậu, vị tha, khiêm nhường… Tất cả những đức tính ấy là phẩm chất của con người Việt Nam của 54 dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam.

Ông trưởng tộc họ Tưởng tâm sự: “ con em dòng họ Tưởng chúng tôi luôn ý thức được về dòng họ và rất tự hào về dòng họ của mình, tuy nhiên ở tuổi vị thành niên chúng tôi chưa kịp làm gì; nói đúng hơn là chưa biết làm gì; đến tuổi “ ngũ thập tri thiên mệnh” một số người trong dòng tộc chúng tôi mới có điều kiện tìm hiểu qua các cụ cao niên, gặp gỡ một số người có tâm huyết trong các chi tộc ở các địa phương và cũng từ đây chúng tôi mới thực sự tìm hiểu kỹ trong sử sách quốc gia; từ đó đã xác định được dòng họ Tưởng ở vào lứa tuổi chúng tôi 50 đến 60 tuổi của thế kỷ XX đã có tới 21 thế hệ định cư sinh sống tập trung trên một số vùng, miền của tổ quốc như Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An và nơi cư trú đông đảo nhất, lâu đời nhất là tỉnh Hà Tây và thành phố Hà Nội; cũng từ đây chúng tôi mới phát hiện ra ở nhữn tỉnh có  họ Tưởng có nhiều người sinh sống lập nghiệp thì ở đó đều có mộ Tổ và nhà thờ Tổ của các chi nhánh họ Tưởng.

Quá trình tìm hiểu tại nhà thờ họ Tưởng xã Tả Thanh Oai, tôi được nghe những câu truyền ngôn: “ Nhất Tưởng, nhị Ngô, tam Nguyễn tộc” có nghĩa là ở làng này xa xưa có một họ Tưởng, có hai họ Ngô là Ngô Thì và Ngô Vi, có ba họ Nguyễn Khai cơ lập nghiệp tại đây. Rồi chuyện họ Ngô họ Tưởng kết thông gia với nhau ở đời thứ 13 cụ ông Ngô Thì Ức lấy bà Tưởng Thị Lãng sinh ra ông Ngô Thì Sỹ, Ngô Tưởng Đạo…

Cũng nhân cuộc họp đông vui đó các cụ cao niên kể cho con cháu, trong dòng họ nghe để học tập, để noi gương, tự hào về dòng họ của mình: Toàn đại tộc họ Tưởng ở các địa phương hiện nay có:

+ Bẩy bà mẹ Việt Nam anh hùng

+ Ông Tưởng Dân Bảo được nhà nước truy tặng huân chương Hồ Chí Minh

+ Một vị là thành ủy thành phố Đà Nẵng được tặng huân chương độc lập.

+ Một vị là thường vụ tỉnh ủy tỉnh Hà Tây

+ Về quân đội, công an, có 6 người được phong quân hàm đại tá.

+ Nhiều vị là thạc sỹ, kỹ sư, bác sỹ, giám đốc các doanh nghiệp nhà nước, thợ giỏi được công nhân bàn tay vàng, nhiều cháu là học sinh giỏi các cấp…

Mỗi kỳ giỗ tổ các cụ đều trịnh trọng ôn lại lời căn dặn của các vị tiên tổ là: “Người có năng lực thì làm được nhiều việc, dốt nát không chịu học thì chẳng làm được gì. Do vậy cần phải học nhiều không được tự mãn” hoặc “ Con cháu hiền tài thì vẻ vang  hưng thịnh, rạng rỡ tổ tông” để  động viên  khích lệ con em trong toàn  đại tộc chăm chỉ học hành.

Đất nước chuyển sang vận hội mới đời sống nhân dân thành thị cũng như nông thôn được cải thiện, vấn để phát huy bản sắc, truyền thống dân tộc, việc hướng về cội nguồn được tiếp tục nhân rộng như là vấn đề thiêng liêng, đồng thời như là động lực để gắn kết, thúc đẩy, cổ vũ cho chúng ta tự hào, phấn khởi bước vào thế kỷ XXI trong dòng họ Tưởng.

Chỉ nghe thôi, ít nhiều tôi đã hiểu về dòng họ Tưởng cũng như những họ khác ở Việt Nam ai cũng muốn con em dòng họ mình luôn mạnh khoẻ, thành đạt, phát triển không ngừng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Nhân dịp đầu xuân năm mới Giáp Thân, tôi xin kính chúc dòng họ Tưởng ở khắp mọi miền đất nước khoẻ mạnh, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng, vạn sự như ý.

Hà nội, ngày 08/02/2004

Tức ngày 18 tháng giêng năm Giáp Thân

Hoàng Tuấn Cư

NXB Văn hóa dân tộc


THÂN THẾ VÀ CUỘC ĐỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ÔNG TƯỞNG DÂN BẢO

Ông Tưởng Dân Bảo sinh năm 1907 tại làng Tó, Tả Thanh Oai ( trước thuộc huyện Thanh Oai,  Hà Đông, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông là đời thứ 19 con thứ năm của cụ Tưởng Văn Tự và bà Trịnh Thị Tiến thuộc chi 2 ngành 2 nhánh 3 họ Tưởng.

Lên 5 tuổi theo gia đình ra Hải Phòng ở, đi học văn học thi đỗ bằng tiểu học Pháp – Việt. Năm 18 tuổi ông có dáng người khẻo mạnh, cường tráng; người dong dỏng  cao, mặt trái xoan, trán cao, mắt sáng. Tính nết hiền lành điểm đạm, thông minh nhận thức nhanh, nói năng hoạt bát vui vẻ dễ gần mọi người. Do hoàn cảnh gia đình không có điều kiện học tiếp phải đi làm nuôi thân, đi làm thư ký đánh máy cho một công sở thuộc chính quyền thành phố. Trong quá trình tiếp xúc với chủ Pháp ông thây mình rất hống hách coi khinh những người dưới  quyền và bị làm nhục nhiều lần. Nhìn ra xã hội bên ngoài thấy đồng bào ta quá nghèo khổ, làm lụng vất vả quanh năm mà vẫn không đủ ăn, trong đầu óc ông từng bước hình thành lòng yêu nước, yêu đồng bào, căm thù oán ghét bọn thực dân Pháp.

Ông bỏ việc không đi làm nữa, thoát li gia đình tập hợp một số bạn bè thân thiết cùng chí hướng, ban ngày đi bán báo, bán bánh mỳ, viết báo để kiếm sống, ban đêm dành nhiều thời gian đọc sách báo trao đổi tình hình thời sự trong nước và thế giới, mò mẫm đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc với mong muốn mang lại cuộc sống ấm no tự do cho mọi người.

Trong bối cảnh đó, năm 1926 ông ra nhập Việt Nam quốc dân Đảng hoạt động bí mật ở Hải Phòng.

Qua một năm hoạt động ông tỏ ra là một người có trình độ và có nhiều công lao nên năm 1927 ( lúc đó ông tròn 20 tuổi), ông được phân công phụ trách Việt Nam khách sạn ( Việt Nam hotel) ở Hà Nội. Đây là một tổ chức kinh doanh tạo nguồn tài chính cho Đảng, đồng thời là nơi liên lạc hội họp của Đảng. Khách sạn có một dàn nhạc dân tộc trong đó Dân Bảo chơi đàn tranh, đàn tính, kéo nhị trình bày và phổ biến các bài ca cứu nước. Thời gian này thỉnh thoảng ông có về  thăm gia đình, khi bà mẹ thân sinh ra ông mất, ông về lần cuối cùng vĩnh biệt mẹ và cùng các anh chi lo việc  lễ tang chu toàn cho mẹ rồi ra đi.

Cuộc khởi nghĩa Yên Bái không thành công và sự việc tên mật thám Bazin khét tiếng chống phá cách mạng bị ám sát. Bọn thực dân Pháp tung cảnh sát và lính kín đi dò la tin tức lùng sục vây bắt những người tình nghi. Ông Bảo bị bắt tại Việt Nam khách sạn cùng một số người khác, tất cả đều bị tống giam vào nhà tù Hỏa Lò. Trong khi hỏi cung chúng tra tấn đánh đập rất giã man. Ông rất gan dạ dũng cảm chịu đựng mọi cực hình tàn bạo mà không hề khai báo gì. Cuối cùng ông bị dưa ra Tòa đại hình xét xử, bị kết án 10 năm tù cầm cố và đẩy ra Côn Đảo.

ở Côn Đảo ông được tiếp xúc với nhiều tù chính trị thuộc các đảng phái khác nhau. Ông gửi thư về cho gia đình nhờ mua các sách tự học tiếng Pháp, tiếng Anh để nâng cao trình độ làm cơ sở cho việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lenin về cách mạng tháng 10 Nga và các quan điểm tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc nói về cách mạng dân tộc dân chủ về con đường cứu nước đăng trên các tờ báo xuất bản ở Pháp.

Qua việc tự tìm hiểu nghiên cứu của bản thân và nhất là sự giúp đỡ hướng dẫn của nhiều đảng viên cộng sản ưu tú như Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng… Ông hiểu rõ được mục đích lý tưởng của Đảng Cộng sản rất phù hợp với lòng dân, Đảng có cơ sở lý luận khoa học, có cương lĩnh tuyên ngôn rõ ràng, ông đã tình nguyện xin đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản, tích cực tuyên truyền vận động những người đảng viên quốc dân Đảng chân chính chuyển sang gia nhập Đảng Cộng sản.

Bọn quốc dân Đảng bảo thủ ở Côn Đảo do Đội Lãng đứng đầu coi ông Bảo là kẻ phản bội, chúng họp kín kết án tử hình ông, chúng đã thoái hóa biến chất làm tay sai cho bọn cai tù và cho bọn chủ Pháp. Một hôm đang buổi ra ngoài, Đội Lãng rủ ông ra chỗ vắng bá vai bá cổ tỏ ra thân thiết lắm rồi bất thình lình dùng dao đâm vào cổ họng ông, máu chảy ra rất nhiều ông ngã vật xuống, các đồng chí đảng viên cộng sản gần đó đã kịp thời đưa ông đi cấp cứu, ông không chết phải nằm điều trị mất 3 tháng, thế là từ đó ông mang một vết sẹo dài ở cổ.

Năm 1936 phong trào Bình dân ở Pháp giành thắng lợi, ở Đông Dương phong trào đòi thả tù chính trị dấy lên mạnh mẽ. Thực dân Pháp buộc phải trả tự do cho ông cùng nhiều đồng chí khác trong đó có Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Cộng Hòa…

Được trả tự do, từ Côn Đảo ông về Hải Phòng tạm ở nhà ông anh ruột là Tưởng Văn Thọ. Hàng tuần ông phải lên Sở mật thám trình diện một lần nghĩa là ông vẫn bị quản thúc. Nghỉ ở nhà được một hôm, hôm sau ông đi các cơ sở  Đảng ở Hải Phòng để bắt liên lạc. Ông lên Hà Nội thăm ông Phạm Quang Chúc là bạn thân cửa hàng Zweephia bán kemcoocs ở Hồ Hoàn Kiếm, ông này là anh vợ cửa ông Nguyễn Kim Cương, Bộ Trưởng của Chính Phủ ta hồi thập niên 60 và cũng là anh vợ của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông cũng đến thăm ông Nguyễn Sơn Bảo em ruột ông Nguyễn Sơn Hà chủ hãng sơn Reessistanco ở Hải Phòng. Mục đích của cuộc thăm viếng này là để bàn công tác. Vấn đề đặt ra là phải tìm một nơi yên ổn làm ăn sinh sống thì Đảng mới giao nhiệm vụ. Ông và một số đồng chí vào tạm lánh ở đồn điền trồng chẩu ga Nghĩa Trang cách thị xã Thanh Hóa 10 km. Cơ sở này do bà Nguyễn Thị Thảo em gái ông Nguyễn Sơn Hà trông nom. Bà Thảo chăm sóc các chiến sĩ cách mạng rất tận tình chu đáo, chở nên một người phụ nữ rất giản dị ân cần trong đời thường và rất kiên cường trong đấu tranh cách mạng. Ông Mười Cúc và ông Bảo rất quí mến bà vì hiểu rõ cuộc đời chìm nổi đầy bão tố của bà. Do hiểu rõ nhau nên mối quan hệ giữa ông Bảo và bà Thảo ngày càng tình cảm hơn. Nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng chí đồng đội bạn bè sau đó hai người trở thành vợ chồng, ông Bảo trở thành người em rể của ông Nguyễn Sơn Hà nhà công nghệ đang ăn nên làm ra ở đất cảng.

Vợ chồng ông Bảo đang làm ăn ổn định và phát đạt thì cơ sở này bị lộ. Được tin báo trước là bọn mật thám Thanh Hóa đến vây bắt, ông bà chạy lánh về Thái Bình, Hà Nội  và Hải Phòng.

Ông Nguyễn Sơn Hà còn có một cửa hàng sơn RESTITANCO ở 97 đường CHARNER Sài Gòn ( nay là đường Nguyễn Huệ). Tổ chức Đảng Hải Phòng bàn với ông Hà để vợ chồng ông Bảo vào làm việc tại cửa hàng sơn RESITANCO ở Sài Gòn.

Sau cuộc thất bại của khởi nghĩa Nam Kỳ, nhiều cơ sở Đảng bị tan vỡ, rất nhiều đảng viên bị bắt và đẩy ra Côn Đảo. Ông Bảo nhận nhiệm vụ cùng một số đồng chí khác xây dựng lại các cơ sở Đảng ở thành phố Sài Gòn và Chợ  Lớn.

Cửa hàng ở 97 CHARNER bên ngoài là buôn bán, bên trong là nơi bí mật họp hành của các đồng chí lãnh đạo, là nơi nuôi dưỡng đảng viên, thường xuyên đến đây có đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Kim Cương, đồng chí Hoàng Quốc Việt từ ngoài Bắc vào đây công tác cũng ăn ở tại đây.

Năm 1945 sau khi cách mạng tháng 8 thành công trong cả nước, Đảng đang thiếu rất nhiều cán bộ lãnh đạo, Đảng chủ trương cử người ra Côn Đảo đón hàng ngàn tù nhân chính trị bị giam cầm ngoài đó để bổ sung cho đất nước trong thời kỳ đầu còn dựng nước. Xứ ủy Nam kỳ họp bàn cân nhắc rồi giao  cho ông Bảo lo việc này.

Sau khi nhận nhiệm vụ ông Bảo đem việc này bàn với ông Hà, được ông Hà đồng ý, ông đã tiến hành huy động và sửa chữa tàu thuyền chuẩn bị cho chuyến công tác đặc biệt này. Vào thời điểm này bà Bảo sinh con trai út, gia đình cũng gặp rất nhiều khó khăn, thương vợ con lắm, phải gác việc nhà sang một bên ông động viên vợ “thời cơ lớn của đất nước đã tới tôi phải lo việc chung, mình phải cố gắng chịu đựng”.

Ông Bảo cầm thư của ông Trần Văn Giầu chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ gặp chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Sóc Trăng bàn việc sửa chữa huy động tàu thuyền, kết quả được 30 ghe bầu cùng đoàn tàu Phú Quốc, ngày 16/09/1945 rời bến Đại Ngãi Sóc Trăng ra Côn Đảo, thì 19 giờ ngày hôm đó cặp bến Cỏ Ống Côn Đảo. Ngày 17/9 tổ chức mít tinh ông Bảo tuyên bố “ từ giờ phút này Côn Đảo là mảnh đất hoàn toàn tự do độc lập”. Tên tham tán Lê Văn Trà phải nộp ấn tín của ngục Côn Đảo cho cách mạng.

Đêm 23/9/1945 giặc Pháp núp sau quân Anh, ấn trở lại đánh chiếm Sài Gòn, thì đoàn tầu từ Côn Đảo trở về cũng cặp bến Đại Ngãi Sóc Trăng cùng hàng ngàn chiến sĩ cách mạng ưu tú trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng và nhiều đồng chí khác sau này giữ các chức vụ quan trọng của Đảng và nhà nước.

Thế là việc chung to lớn ấy ông Bảo đã hoàn thành xuất sắc, bàn giao lại toàn bộ số người, vũ khí và tài sản cho ông Hoàng Quốc Việt và xứ ủy Nam kỳ.

Nhiều sách báo và nhiều người đã nói tới sự kiện này. Ông Phạm Hùng trưởng đoàn tù nhân ở Côn Đảo trở về đã hết lời ca ngợi chiến công của ông Bảo. Ông Vũ Huy Sứng nguyên là thứ trưởng Bộ Dầu khí người cùng hoạt động với ông Bảo nhớ lại thời kỳ sôi nổi ấy đã khẳng định: Chỉ có ông Bảo mới có khả năng tổ chức và nguồn tài chính dồi dào để chạy đua với quân giặc đón tù nhân từ Côn Đảo trở về rất kịp thời. Ông Nguyễn Công Hòa nguyên Phó Chủ tịch Tổng công đoàn lao động Việt Nam đã ca ngợi công lao to lớn của ông Nguyễn Sơn Hà và vợ chồng ông Bảo, nếu như không kịp thời đưa các đồng chí ta trở về khi thực dân Pháp chiếm lại Côn Đảo chúng sẽ thủ tiêu các đồng chí của ta.

Khi giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn cả Nam Bộ lại bùng lên kháng chiến, ông Bảo lại lao vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của tổ quốc. Cuối tháng 10/1945 ông được cử làm bí thư tỉnh ủy kiêm chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Châu Đốc đồng thời là cố vấn cho hội Khơ Me cứu quốc. Khi Pháp tái chiếm lại Long Xuyên , Cần Thơ, Châu Đốc. Ông Hoàng Quốc Việt trở về miền Bắc, ông Bảo đã tình nguyễn ở lại Nam bộ tiếp tục chiến đấu. Đầu năm 1946 ông được cử làm thanh tra chính trị miền Tây Nam bộ bọn thực dân Pháp rất hoảng sợ ông và đã treo giải thưởng lớn cho ai chỉ điểm và bắt được ông.

Tháng 6/1946 một hôm ông cùng em ruột là Tưởng Tuấn Hải đi về Đồng Tháp Mười nơi các cơ quan của Xứ Ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ ở thì bị bắt, chúng giải hai anh em ông về Cần Thơ giao cho sở Mật thám lấy khẩu cung. Suốt một tuần lễ bị chúng đánh đập rất dã man, nhưng chúng không khai được gì, chúng lại đem hai anh em ông về giam tại khám lớn Sài Gòn giao cho Tòa án bính xét xử. Tại đây ông bị đánh đập rất tàn nhẫn bị thổ huyết sống đi chết lại nhiều lần, nhưng khi tỉnh lại ông vẫn tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho mọi người trong trại giam một cách rất khôn khéo sáng tạo mà địch không hề biết. Cho nên ông được mọi người kính nể, tôn trọng. Không lấy được chứng cớ gì để buộc tội. Tòa án buộc phải tha bổng ông Hải, còn ông Bảo do bị ốm nặng vầ có sự can thiệp của một luật sư người Pháp do bà Bảo thuê nên được tạm tha về bệnh viện chợ Rẫy chữa trị.

Tháng 11/1946 Trung tướng Nguyễn Bình tư lệnh trưởng quân khu VII là bạn thân của ông Bảo biết tin này liền giao cho Ban công tác thành phố phối hợp với một số đồng chí hoạt động nội thành tổ chức đưa ông Bảo ra chiến khu Đông Thành nơi bộ tư lệnh quân khu VII đóng quân, giao cho bác sĩ Hồ Văn Huê trưởng phòng quân y quân khu VII trực tiếp khám và chữa bệnh cho ông.

Trong thời gian nghỉ ngơi chữa bệnh ông Bình thường xuyên đến thăm, thông báo tình hình thời sự và các tin chiến thắng của ta cho ông Bảo, đôi khi còn hỏi ý kiến để giải quyết một số việc trong nội bộ cơ quan Bộ Tư lệnh. Ông Bình tin và mến phục ông Bảo nên nghe những điều ông góp ý. Ông Lê Duẩn bí thư Xứ Ủy mỗi khi đến làm việc với ông Bình đều ghé thăm ông Bảo.

Ai cũng mong ông khẻo mạnh trở lại cộng tác, thì tháng 6/1947 quân Pháp huy động thủy lục không quân ồ ạt tiến công vào chiến khu Đông Thành. Ông Bảo tuy được các chiến sĩ đi theo bảo vệ nhưng do bị tù đày nhiều lần bị địch tra tấn dã man, mắc bệnh hiểm nghèo, sức khẻo giảm sút, chạy trốn địch trong đầm lầy, cở lau cao quá đầu người, ông bị cảm lạnh đột ngột không kịp cứu chữa và đã qua đời.

Được tin đó ai cũng đau sót và buồn rầu. Ông Bình đứng ra tổ chức tang lễ rất trọng thể tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng tại Cần Thơ – Đồng Tháp ông thọ 40 tuổi. Tiểu sử của ông được đăng trên báo xứ ủy Nam kỳ trong một khung đen hình chữ nhật.

Sau khi miền Nam giải phóng năm 1975 đồng chí bè bạn đã đưa hài cốt của ông về an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ  Chí Minh, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức truy điệu ông trọng thể, đồng chí Nguyễn Văn Linh khi đó là Tổng bí thư Đảng cùng anh em bè bạn đã tới vĩnh biệt ông người đồng chí kiên cường bất khuất tài ba.

Đảng, Nhà nước ta luôn luôn ghi nhớ công lao của những người đã hy sinh thân mình cho đất nước, đã truy tặng ông  Huân chương Hồ Chí Minh.

Bảo Thảo vợ ông năm 1987 do bị cảm sốt và áp huyết đã qua đời thọ 80 tuổi. Hiện nay vợ chồng ông Bảo còn lại ba  người con gái.

  1. Tưởng thị An, sinh năm 1939, giáo viên trường Lê Thánh Tôn, Nhà Bè đã nghỉ hưu tại 24/14 ấp 6 xã Tân Quý Đông Nhà Bè.
  2. tưởng Thúy Bính, sinh năm 1941 buôn bán vặt, ngụ tại 114B Chung Cư Ân Quang.
  3. Tưởng Thị Quý, sinh năm 1943, giáo viên trường Lê Thánh Tôn đã nghỉ việc, ngụ tại 378 hoặc 6/1 đường Cách mạng tháng tám, thành phố Hồ Chí Minh.

Thân thế và cuộc đời  hoạt động cách mạng của ông Bảo chủ yếu dựa vào hồi ký của Tưởng Tuấn Hải viết về anh ruột mình và các tư liệu do vợ cùng các con ông Bảo cung cấp.

Ngày 19/01/2004

Đại tá Tưởng Duy Hiếu

Cháu ruột gọi ông Bảo là chú

DANH SÁCH BAN LIÊN LẠC HỌ TƯỞNG


I, Những khu vực có dòng họ Tưởng ở Việt Nam từ 10 đời trở lên

1. Xã Tả Thanh Oai , Thanh Trì, Hà Nội có 4 chi họ

2. Xã Hữu Hòa, Thanh Trì, Hà Nội có 2 chi họ

3. Xã Huỳnh Cung, Thanh Trì,  Hà Nội có 2 chi họ

4. Xã Phú Lương, Thanh Oai, tỉnh Hà Tây có 6 chi họ

5. Xã Tảo Dương Văn, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây  có 2 chi họ Tưởng

6. Xã Hoàng Diệu, Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây có 2 chi họ

7. Xã Quảng Tùng, Quảng Trạch , tỉnh Quảng Bình có 6 chi họ Tưởng.

- Xã Kỳ Liên, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tây

- Làng  Dương Liễu, Đồng Châu, Quảng Thái huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ AN

- Xã Bích Triều, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

8. Xã Đại Hiệp, Đại Thạch, huyện Đại Lộc, thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam có 4 chi họ.

II, Danh sách ban liên lạc

  1. Tưởng Văn Hòa ĐT: 0987329638 – Trưởng họ - Trưởng ban liên lạc
  2. Tưởng Thái Hưng     0438230403 – Chi 1 Tả Thanh Oai, Hà Nội
  3. Tưởng Văn Tuất     0438529925 -  Chi 2 Tả Thanh Oai, Hà Nội
  4. Tưởng Phi Vượng     0438347373 – Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây (hiện đang ở tại 441 Đội Cấn – Hà Nội).
  5. Tưởng Phi Tĩnh        0438533563  - Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây.
  6. Tưởng Phi Đằng          0438530507   - Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai
  7. Tưởng Phi Phương      0438233 016 – Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây
  8. Tưởng Văn Chương    0436884865 – Hữu hòa, Thanh Trì, Hà Nội
  9. Tưởng Văn Hiển         0343841348 – Chương mĩ, Hà Tây

10. Tưởng Duy Tri            0343884157 - Ứng Hòa, Hà Tây

11. Tưởng Văn Quế         0436885227 – Huỳnh Cung, Thanh Trì, Hà Nội

12. Tưởng Duy Bát           0436320689 - Ứng Hòa, Hà Tây

13. Tưởng Minh Hiền       047563232 – Nghệ An

14. Tưởng Đăng Phương   038853591 – Nghệ An

15. Tưởng Phi Cường        027823866 – Tuyên Quang

16. Tưởng Thanh               0510865547 – Đại Lộc, Quảng Nam

17. Tưởng Nguyên Tuất    0438370355  - Quảng Trạch, Quảng Bình

18. Tưởng Công Đức           0436645116 – kỳ Anh, Hà Tĩnh

19. Tưởng Duy Căn           0343883073 - Ứng Hòa, Hà Tây

20. Tưởng Phi Bình                              - Văn Nội, Phú Lương, Hà Tây

21. Tưởng Phi Mạnh         0904244086 – Văn Nội, Phú Lương, Hà Tây